| (danh sách) | |
| Rộng rãi | Thiên văn • Gregory • Hồi giáo • ISO |
| Các kiểu lịch | |
| Âm dương • Dương • Âm | |
|
|
|
| Hạn hẹp | Assyria • Armenia • Attica • Aztec (Tonalpohualli – Xiuhpohualli) • Babylon • Bahá'í • Bengal • Berber • Bikram Samwat • Phật • Celt • Trung Quốc • Alexandria • Ai Cập • Ethiopia • Calendrier Républicain • Đức • Do Thái • Hellenic • Hindu • Ấn Độ • Iran • Ireland • Nhật Bản • Java • Juche • Julius mới • Triều Tiên • Litva • Malayalam • Maya (Tzolk'in – Haab') • Dân quốc • Nanakshahi • Nepal Sambat • Pawukon • Pentecontad • Rapa Nui • La Mã • Rumi • Xô viết • Tamil • Thái (Âm – Dương) • Tây Tạng • Myanma . Việt Nam• Xhosa • Zoroaster |
| Các kiểu lịch | |
| Run • Trung Mỹ (Đếm dài – Vòng tròn) | |
| Các biến thể Kitô | |
| Julius • Lịch các thánh • Lịch phụng vụ Chính thống giáo phương Đông • Năm phụng vụ | |
| Hiếm dùng | Darius • Discordia |
| Thể hiện và ứng dụng | Lịch vĩnh cửu • Lịch vạn niên • Lịch bàn • Lịch treo tường • Lịch kinh tế |
Âm lịch là loại lịch dựa trên các chu kỳ của tuần trăng. Loại lịch duy nhất trên thực tế chỉ thuần túy sử dụng âm lịch là lịch Hồi giáo, trong đó mỗi năm chỉ chứa đúng 12 tháng Mặt Trăng. Đặc trưng của âm lịch thuần túy, như trong trường hợp của lịch Hồi giáo, là ở chỗ lịch này liên tục không gắn liền với các mùa, nhanh hơn mỗi năm khoảng 11 hay 12 ngày, và chỉ trở lại vị trí mà nó có trong mối liên quan tới dương lịch sau mỗi 33 hoặc 34 năm Hồi giáo. Nó được sử dụng chủ yếu cho các mục đích tôn giáo. Tại Saudi Arabia nó cũng được sử dụng cho các mục đích thương mại.
Phần lớn các loại lịch khác, dù được gọi là âm lịch, trên thực tế chính là âm dương lịch. Điều này có nghĩa là trong các loại lịch đó, các tháng được duy trì theo chu kỳ của Mặt Trăng, nhưng đôi khi các tháng nhuận lại được thêm vào theo một số quy tắc nhất định để đồng bộ hóa các chu kỳ trăng với năm dương lịch. Hiện nay, trong tiếng Việt, khi nói tới âm lịch thì người ta nghĩ tới loại lịch được lập dựa trên các cơ sở và nguyên tắc của lịch Trung Quốc, nhưng có sự chỉnh sửa lại theo UTC+7 thay vì UTC+8. Nó là một loại âm dương lịch thực thụ chứ không phải âm lịch thuần túy.
Do âm lịch thuần túy chỉ có 12 tháng âm lịch (tháng giao hội) trong mỗi năm, nên chu kỳ này (354,367 ngày) đôi khi cũng được gọi là năm âm lịch.
Mục lục |
Âm lịch thuần túy cũng khác dương lịch ở chỗ ngày nào là ngày đầu tiên của năm. Cụ thể xem lịch Hồi giáo.
Đối với một số loại "âm lịch" (không thực sự), chẳng hạn như lịch Trung Quốc, thì ngày đầu tiên của tháng là ngày khi Mặt Trăng bị che khuất hoàn toàn tại khu vực lịch này được sử dụng.
Nhiều loại "âm lịch" khác dựa trên lần nhìn thấy đầu tiên của trăng lưỡi liềm.
Độ dài của chu kỳ/quỹ đạo Mặt Trăng là khó dự đoán và dao động xung quanh giá trị trung bình của nó. Do các quan sát phụ thuộc vào độ không chắc chắn và các điều kiện thời tiết, và các phương pháp thiên văn là rất phức tạp, nên đã có những cố gắng để tạo ra các quy tắc số học cố định.
Độ dài trung bình của tháng giao hội là 29,530588... ngày. Nó có nghĩa là độ dài tháng sẽ là 29 và 30 ngày luân phiên (được gọi tương ứng là thiếu và đủ). Sự phân bố của các tháng thiếu và đủ có thể được xác định bằng sử dụng phân số liên tục, và khảo sát các phép xấp xỉ kế tiếp cho độ dài của tháng theo phân số của ngày. Trong danh sách dưới đây, sau số ngày liệt kê trong tử số thì một số nguyên tháng được liệt kê như là mẫu số đã đầy đủ:
29 / 1 (sai số: -1,061176... ngày sau 2 tháng) 30 / 1 (sai số: 0,938824... ngày sau 2 tháng) 59 / 2 (sai số: -1,009404... ngày sau 33 tháng) 443 / 15 (sai số: 0,988320... ngày sau 30 năm) 502 / 17 (sai số: -0,98088... ngày sau 70 năm) 1447 / 49 (sai số: 0,999957... ngày sau 3.437 năm) 25101 / 850 (sai số: phụ thuộc vào thay đổi của giá trị đối với tháng giao hội)
Các phân số này có thể được sử dụng trong việc lập các loại âm lịch, hoặc kết hợp với dương lịch để tạo ra âm dương lịch. Chu kỳ 49 tháng được Isaac Newton đề xuất làm cơ sở cho một lựa chọn trong tính toàn ngày Phục sinh vào khoảng năm 1700[1]. Chu kỳ 360 tháng của lịch Hồi giáo dạng bảng là tương đương với 24×15 tháng trừ đi phần hiệu chỉnh là 1 ngày.
Tại Anh, lịch với 13 tháng, mỗi tháng 28 ngày, cộng một ngày dư, được gọi là "a year and a day" (một năm và một ngày) còn được sử dụng tới thời kỳ Tudor. Nó có lẽ là một loại lịch lai trong đó người ta thay thế một tuần thông thường với 7 ngày cho một phần tư tháng âm lịch trên thực tế, vì thế một tháng có chính xác 4 tuần, không phụ thuộc vào tuần trăng trên thực tế. "Năm âm lịch" ở đây được coi là có 364 ngày, làm cho năm dương lịch (365 ngày) trở thành "một năm và một ngày".
Chẳng hạn, bài ca balat thời kỳ "Edward" (có lẽ là Edward II, cuối thế kỷ 13 hay đầu thế kỷ 14) về Robin Hood có câu "How many merry months be in the year? / There are thirteen, I say ..." (Có bao nhiêu tháng dễ chịu trong năm? / Có mười ba, tôi nói...), đã được soạn giả thời Tudor thay đổi thành "...There are but twelve, I say...." (Chỉ có mười hai, tôi nói...). Robert Graves trong lời giới thiệu cho Greek Myths đã bình luận điều này với "số 13, con số của tháng chết chóc của Mặt Trời, chưa bao giờ đánh mất tiếng xấu của nó trong số các điều mê tín."
Thậm chí vào cuối thế kỷ 20, các tổ chức tài chính Anh quốc vẫn còn cung cấp các khoản vay thế chấp theo âm lịch, đòi hỏi phải có điều chỉnh hàng năm.
Phần lớn các loại lịch khác được gọi là âm lịch trên thực tế chính là âm dương lịch; các ví dụ như thế có lịch Trung Quốc, lịch Do Thái và lịch Hindu cũng như phần lớn các loại lịch được sử dụng thời cổ đại.
Tất cả các loại lịch trên đều có số tháng không cố định trong mỗi năm. Lý do là mỗi năm dương lịch trên thực tế không chia hết cho tháng âm lịch, vì thế nếu không có sự chỉnh sửa bằng cách thêm các tháng nhuận vào thì các mùa sẽ bị trôi dạt dần sau mỗi năm qua đi. Sự chỉnh sửa này tạo ra tháng thứ 13 của năm sau mỗi 2 hay 3 năm âm dương lịch.