Netencyclo tiếng Việt, The wikipedia mirror - The biggest multilingual encyclopedia : Ông Ích Khiêm

- Ông Ích Khiêm -

Ông Ích Khiêm :

Ông Ích Khiêm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Ông Ích Khiêm (1829 - 1884[1]) có tự là Mục Chi, là danh tướng dưới thời vua Tự Đức, Việt Nam.

Mục lục

[sửa] Thân thế và sự nghiệp

Ông Ích Khiêm[2] sinh ngày 21 tháng 12 năm Mậu Tý (1829) tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là làng Phong Lệ Bắc, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Tổ tiên Ông Ích Khiêm vốn là người dân tộc miền núi xuống định cư làm ruộng ở miền xuôi. Cha ông là Ông Văn Điều và mẹ là Võ Thị Cốt. Sinh ra trong một gia đình nông dân đông con, gồm 8 trai 5 gái, ông Khiêm là người con thứ tư sau ba chị gái, nhưng lại là người con trai đầu.

Thuở nhỏ, vừa chăn trâu cắt cỏ, vừa theo học với người chú là Ông Văn Trị. Ông thông minh, chăm học nhưng cũng rất nghịch ngợm. Khi lớn lên, ngoài tài gồm văn võ, ông còn nổi tiếng là người chính trực, là một vị tướng khẳng khái, mưu lược, biết thương yêu quân sĩ.

Mưới sáu tuổi, Ông thi đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ 7 (Đinh Mùi, 1847) trong khoa thi hương ở Bình Định, nhờ sự sáng suốt của quan chủ khảo Vũ Duy Thanh (1807-1859). Ông Thanh đã quyết cho đỗ với lời phê: Bài này tuy lời văn không được chải chuốt, chữ viết xấu nhưng ý tứ dồi dào. Qua bài này, ta thấy thí sinh phải là người có lòng yêu dân thương nước cao, có chí ngang tàng, có lòng cương trực thì mới viết được như thế.[3]

Đậu cử nhân, ông được bổ làm tri huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mưu đồ tiến chiếm Việt Nam vào ngày 01 tháng 9 năm 1858, ông được gọi ra cầm quân dưới tướng Nguyễn Tri Phương bảo vệ thành Đà Nẵng và lo củng cố các đồn trại như đồn Nhất ở đèo Hải Vân, đồn Liên Trì, Phong Lệ và đắp lũy từ Hải Châu đến Phước Ninh...

Từ năm 1861 đến năm 1865, Ông lo đánh dẹp cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng ở vùng Hải Ninh .

Năm Tự Ðức thứ 16 (1864), dư đảng của Hồng Tú Toàn là Ngô Côn chạy sang Việt Nam, trước xin hàng, sau đem tàn quân cướp phá các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Năm 1868, Ngô Côn chiếm Cao Bằng. Triều đình sai quan thống đốc Phạm Chi Hương viết thư sang cho nhà Thanh nhờ giúp. Vua nhà Thanh sai phó tuớng Tạ Kế Quí, đem quân sang cùng với Ông Ích Khiêm và phó đề đốc Nguyễn Viết Thành đánh phá quân của Ngô Côn ở Thất Khê. Nhưng đến tháng 7 năm ấy, quân Việt bị thua ở Lạng Sơn, Phạm Chi Hương bị bắt, tham tán Nguyễn Lệ và Nguyễn Viết Thành đều tử trận,

Cuối năm 1870 Ngô Côn xua quân vây đánh tỉnh thành Bắc Ninh, quân của Ông Ích Khiêm liền đem quân chống trả, diệt đuợc Ngô Côn.

Thuộc hạ của Ngô Côn là Hoàng Sùng Anh hiệu Cờ Vàng, Lưu Vĩnh Phúc hiệu Cờ Đen, Bàn Văn Nhị, Lương Văn Lợi hiệu Cờ Trắng, vẫn cứ quấy phá ở Tuyên Quang, Thái Nguyên. Triều đình sai quan trung quân Đoàn Thọ ra làm Tổng thống quân vụ ở Bắc kỳ.

Đoàn Thọ vừa mới ra, kéo quân lên đóng ở tỉnh thành Lạng Sơn, bị Tô Tứ (người Hoa) nổi lên, nửa đêm chiếm lấy thành, Võ Trọng Bình chạy thoát, Ðoàn Thọ bị giết chết.

Tin dữ về đến Huế, Vua Tự Ðức phong cho Ông Ích Khiêm chức tiểu phủ sứ[4], dưới quyền của Tôn Thất Thuyết, phối hợp cùng Hoàng Kế Viêm cấp tốc mang quân đi đánh dẹp...

Năm 1875, Tôn Thất Thuyết và ông mới diệt được quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh ở Sơn Tây.

Năm 1878, Ông Ích Khiêm lại diệt được Lý Dương Tài (người Hoa) ở hồ Ba Bể thuộc Bắc Kạn.

Do nhiều công lao, vua Tự Đức phong cho ông tước Kiên Trung Nam.

Tháng 7 năm 1883, ông được giao trấn giữ cửa biển Thuận An để bảo vệ kinh thành Huế. Trước thế lực mạnh của quân Pháp, ông không thể làm tròn trách nhiệm nên bị cách chức đi tiền quân hiệu lực. Sau nhờ lập được công nên vua cho nhận lại phẩm hàm cũ.

Thời gian làm quan ở kinh, ông tỏ ý không phục hai quan phụ chính là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường nên bị họ trù dập và hãm hại[3]. Ông bị đày vào nhà lao Bình Thuận, làm một người tù khổ sai. Uất ức, ông nhịn đói mà chết.[5]

Theo gia phả, Ông Ích Khiêm mất ngày 19 tháng 7 năm 1884 tại Bình Thuận, thọ 56 tuổi.

[sửa] Thơ

Khi Pháp đánh Bắc Kỳ, vua Tự Đức bí mật thuê quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc sang giúp. Ông Ích Khiêm đuợc lệnh phối hợp. Thấy quân Tàu cậy thế sách nhiễu dân quá đáng, khiến ai nấy đều ta thán, ông làm bài thơ mai mỉa:

Áo chúa cơm vua đã bấy lâu
Ðến khi có giặc phải thuê Tàu!
Từng phen võng giá mau chân nhẩy
Ðến buớc chông gai thấy mặt đâu
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu de ngày hiến đứa răng bầu
Ai ôi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu.

Làm khi bị an trí ở Bình Thuận:

Mình ốc mang rêu rửa sạch ai
Rung cây nhát khỉ thế thường hoài
Mèo quào xuể vách còn chi sức
Sứa vượt qua đăng mới gọi tài
Nhớ kẻ dang roi dong vó ngựa
Ðố ai lấy thúng úp mình voi
Xưa nay ếch giếng chê trời hẹp
Chim xổ lồng ra, mở mắt coi!

Sinh thời, ông thích làm thơ, nhưng tác phẩm đã thất lạc gần hết.

[sửa] Giai thoại

Hiện còn vài giai thoại nói về ông, trích:

  • Có lần cảm thương cho thời cuộc nước nhà, Ông Ích Khiêm thố lộ:
Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết.
Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường.
Nghĩa:
Một sông chia hai nước lời khôn nói,
Bốn tháng ba vua triệu chẳng lành. đó là điềm chẳng lành.

Trong câu thơ, ông khéo nêu tên Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường là hai phụ chính đại thần quyết định chủ yếu việc triều chính lúc bấy giờ.[6]

  • Một lần Ông Ích Khiêm tổ chức tiệc rượu mời các quan tham dự. Bàn trên cỗ dưới la liệt, nhưng các món đều nấu bằng thịt chó.

Ăn ngon, có người hỏi ông thịt gì mà ngon thế, ông bèn đưa tay chỉ các mâm và nói lớn:

Trên cũng chó, dưới cũng chó, toàn là chó cả!

Tiệc xong, các quan gọi nước uống mấy lần mà không thấy người nhà đem nước lại (vì ông dặn trước phải làm vậy); một lúc sau người nhà mới có mặt, ông giả vờ quát:

Mẹ cha bay! Gục đầu xuống ăn không lo gì nước, ăn làm gì!

Khách tham dự đều hiểu Ông Ích Khiêm đã kiếm cớ, để chửi khéo những quan lại không lo tròn chức việc của mình.

  • Lần khác, Tôn Thất Đính có nhờ Ông Ích Khiêm đưa thư cho con là Tôn Thất Thuyết. Nghe có thư, ông Thuyết liền sửa lại áo mũ để đón nhận. Đợi ông Thuyết đang thi lễ, Ông Ích Khiêm hắng giọng theo kiểu người bề trên, to tiếng:

Cụ cố biểu: Thằng Thuyết giết người vừa vừa chứ.

Giận đỏ mặt, nhưng Tôn Thất Thuyết không làm gì được, vì ngay sau đó ông Khiêm đã nhanh miệng nói:

Dạ, cụ cố chỉ nhắn có vậy.[3]

[sửa] Nhận xét

Đánh giá về ông, có đôi ba ý kiến khá trái ngược, trích:

Nguyễn Văn Tường:

Ông ích Khiêm, khí chất hung hãn, hơn mười năm nay từng trải trăm trận, tuy trong khoảng đó có lúc cậy công nhưng gặp lúc hiểm nghèo đã vâng mệnh, lâm cơ ứng biến, binh lính đều chịu sai phái, kẻ địch cũng sợ hãi cho nên các bầy tôi ở quân thứ hiện nay không ai vượt qua. Nếu gặp được vị thống soái tài hiểu biết, có uy vọng hơn hẳn thì có thể làm cho ông ta kính sợ, mới có thể từ bỏ hết lỗi lầm mà tỏ rõ công lao, đó cũng là vị lương tướng ngày nay vậy. Duy tài lộ ra ở khí, hàm dưỡng chưa sâu, mà kẻ đồng sự lại chưa c1o ai hơn mình, cho nên vì khinh nhờn mà sinh kiêu căng, vì cưỡng cường mà sinh ngỗ ngược, đến nỗi tự mắc vào lỗi lầm đáng tiếc...[7].

Phan Khôi:

Ông Ích Khiêm vốn là tay có tài, nhưng có tánh kiêu ngạo, khinh đời, vô lễ, hay làm những sự bướng bỉnh, thì đã đành rồi. Nói đến cái tâm địa và cái khí tiết của ông, thì cũng lại là không ra chi...
Nguyên ông Khiêm từ khi ở Bắc kỳ về, sau lúc vua Dực Tôn (Tự Đức) băng rồi thì ổng theo phe với ông Tường ông Thuyết mà gây ra những việc loạn trào. Chính mình ông Khiêm đã vâng mạng Tường, Thuyết mà giết vua Hiệp Hòa, chớ ai?
Ông Khiêm hồi đầu theo Tường – Thuyết, song sau lại bị Tường - Thuyết xiềng mà đày đi, điều ấy không lấy gì làm lạ. Bởi vì, Tường - Thuyết thấy Khiêm làm được việc thí quân mà không gớm tay, sợ để rồi có ngày lại quay mà cắn lại mình, cho nên sau khi xong việc vua Hiệp Hòa rồi, Tường – Thuyết phải trừ ông Khiêm...
Bấy giờ lại có câu phong dao nầy tưởng là phê bình đúng lắm:
"Nước Nam có bốn anh hùng;
Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu!"[8]

Lý giải về hai câu trên, PGS. TS. Đỗ Bang có ý khác:

Sau ngày kinh đô thất thủ, phe thân Pháp và tay sai nắm quyền, các vị này thất thế bị rơi vào thế đối lập chống lại triều đình...Danh dự của các ông bị bôi nhọ, xuyên tạc ngay tại Huế...bia miệng độc ác và nghịch lý nhất là khi đem sự nghiệp của các ông ra làm điều giễu cợt...[9].

Nguyễn Đắc Xuân:

Sống bộc trực, ngang bướng như thế giữa cái hoàn cảnh hỗn loạn, tiêu cực cuối đời Tự Đức làm sao Ông Ích Khiêm có thể tránh được cái hậu quả tất yếu là bị dồn vào cõi chết ở Bình Thuận...[10]

Và Nguyễn Khắc Thuần:

Ông Ích Khiêm là bậc lừng danh văn võ song toàn, công minh chính trị, không kiêng sợ bất cứ một ai...Ông xứng đáng là một trong những biểu tượng của lòng cương trực và của khí phách ngoan cường.[11]

[sửa] Mộ phần và con cháu

Ông Ích Khiêm mất, con trai ông là Ông Ích Thiện đã đưa cha về mai táng ở làng Phong Lệ. Đến năm Bảo Đại thứ 13 (1938) thi hài ông được cải táng về Gò Mô (Đà Nẵng).

Ngôi mộ ông được xây theo hình bát giác, phía trước có nhà bia, bên trong đặt một tấm bia bằng đá cẩm thạch, cao 0,83m, rộng 0,54m được trang trí hình rồng, phụng và hoa lá.

Bia ghi:

Hoàng Triều - Hiển tổ Binh bộ tả thị lang, tấn phong Kiên Trung Nam linh mộ.
Bảo Đại thập tam niên, tứ nguyệt, kiết nhật.
Dịch nghĩa:
Triều Nguyễn - ông cha chức là Tả thị lang Binh bộ, tước là Kiên Trung Nam.
Năm Bảo Đại thứ 13, tháng 4 ngày tốt.

Lăng mộ Ông Ích Khiêm được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích cấp quốc gia vào ngày 12 tháng 7 năm 2001.[12]

Các con ông là Ông Ích Hoắc, Ông Tán Nhì đều là nghĩa quân kháng Pháp dưới sự lãnh đạo Nguyễn Duy Hiệu. Cháu ông là Ông Ích Đường (? - 1908) cũng là một liệt sĩ chống Pháp thời cận đại.

[sửa] Chú thích

  1. ^ Năm sinh và mất ghi theo web Đà Nẵng [1]. Có nguồn ghi khác, như Nguyễn Khắc Thuần ghi ông sinh năm 1831 (Lần giở trước đèn, Nxb Thanh niên, 2003, tr. 228), gia phả dòng họ ông ghi ông mất ngày 19 tháng 7 năm Quý Mùi (21 tháng 8 năm 1883) [2].
  2. ^ Tổ tiên nhiều đời mang họ Ong. Khi Ông Ích Khiêm thi đỗ cử nhân, vua Tự Đức cho bỏ chữ trùng một bên, thành chữ Ông, từ đó có dòng họ Ông Ích tại Quảng Nam.
  3. ^ a b c Theo Thái Vũ, Chuyện hay nhớ mãi, Nxb Thuận Hóa, 1987, tr. 189-193
  4. ^ Vì vậy, thời đó người ta quen gọi ông là ông “Tiểu Phong Lệ” hay quan “Tiểu”
  5. ^ Có tài liệu nói ông bị đầu độc chết (Theo Thái Vũ, sách đã dẫn)
  6. ^ Một con sông Hương mà bờ bên hữu là đại diện nước Pháp (Khâm sứ), bờ bên hữu là Nam triều. Ba vua là Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc. Phạm Khắc Hòe cho biết câu đối không biết ai làm, nhưng ai cũng thuộc lòng.(Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 1986, tr. 92). Phan Khôi cho rằng hai câu này không phải do ông Khiêm sáng tác. (theo web đã dẫn ở phần liên kết ngoài)
  7. ^ Trích Bắc Kỳ tấu nghị ngày 20 tháng 6 năm Tự Đức 26 (1873), in trong Nguyễn Văn Tường, cuộc đời và lời giải, PGS. TS. Đỗ Bang chủ biên, Nxb VHTT, 2007, tr. 37.
  8. ^ Lược theo [3]
  9. ^ Nguyễn Văn Tường, cuộc đời và lời giải, PGS. TS. Đỗ Bang chủ biên, Nxb VHTT, 2007, tr. 12.
  10. ^ Hương Giang cố sự, Tủ sách Sông Hương, 1986, tr.31-33
  11. ^ Lần giở trước đèn, sách đã dẫn, tr. 228-229.
  12. ^ Theo [4]

[sửa] Liên kết ngoài

Ông Ích Khiêm - theo chủ đề

Ông Ích Khiêm - Dự án liên quan

© 2008 Netencyclo - Netencyclo Trang Chính - Chính sách về sự riêng tư - Lời phủ nhận - Program Policies
Netencyclo, the Wikipedia mirror : the biggest multilingual free-content encyclopedia on the Internet. Sửa đổi lần cuối lúc 00:11, ngày 14 tháng 5 năm 2007. Tất cả nội dung được phép sử dụng theo Giấy phép Tài liệu Tự do GNU (xem Quyền tác giả để biết thêm chi tiết). All Wikipedia content is licensed under the GNU Free Documentation License (see details). Content on this web site is provided for informational purposes only. We accept no responsibility for any loss, injury or inconvenience sustained by any person resulting from information published on this site. We encourage you to verify any critical information with the relevant authorities.