| Hổ | ||||||||||||||
| Tình trạng bảo tồn | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Phân loại khoa học | ||||||||||||||
|
||||||||||||||
| Tên hai phần | ||||||||||||||
| Panthera tigris (Linnaeus, 1758) |
||||||||||||||
Phân bổ trong lịch sử của hổ (vàng nhạt) và 2006 (xanh lá).[2]
|
||||||||||||||
| Tên đồng nghĩa | ||||||||||||||
|
Tigris striatus Severtzov, 1858 |
Hổ (còn gọi là cọp, hùm, ông ba mươi) (Panthera tigris) là động vật có vú thuộc họ Mèo (Felidae), là một trong bốn loại "mèo khổng lồ" thuộc chi Panthera. Hổ là một loại thú dữ ăn thịt sống.
Phần lớn các loài hổ sống trong rừng và đồng cỏ (là những khu vực mà khả năng ngụy trang của chúng phù hợp nhất). Trong số các loại mèo khổng lồ, chỉ có hổ và báo đốm Mỹ (jaguar) là bơi tốt, và thông thường người ta hay thấy hổ tắm trong ao, hồ và sông. Hổ kém mèo về khả năng leo trèo. Hổ đi săn đơn lẻ, thức ăn của chúng chủ yếu là các động vật ăn cỏ cỡ trung bình như hươu, nai, lợn rừng, trâu, v.v. Tuy nhiên chúng cũng có thể bắt các loại mồi cỡ to hay nhỏ hơn nếu hoàn cảnh cho phép. Hổ là một trong số nhiều loài động vật ăn thịt nằm ở mắt xích cuối cùng của các chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái tự nhiên.
Hổ thường bị săn bắt để lấy da, xương, hay các bộ phận khác. Nạn săn bắt, buôn bán hổ khiến số lượng loài động vật quý hiếm này giảm 95% so với đầu thế kỷ 20. Ngày nay trên thế giới chỉ còn khoảng 5.000 - 7.000 cá thể hổ hoang dã, trong đó có khoảng 200 ở Việt Nam và 1.500 ở Ấn Độ [3]. Loài hổ đã được đưa vào danh sách các loài đang gặp nguy hiểm.
Mục lục |
Các nòi khác nhau của hổ có một số đặc trưng khác nhau. Nói chung, hổ đực có khối lượng từ 150 đến 310 kilôgam (330 lb tới 680 lb) và hổ cái từ 100 đến 160 kg (220 lb và 350 lb). Hổ đực dài từ 2,6 đến 3,3 m (8'6" tới 10'9"), còn hổ cái từ 2,3 đến 2,75 mét (7'6" đến 9'). Trong các nòi hổ phổ biến, hổ Corbetts là nhỏ nhất còn hổ Amur là lớn nhất.
Màu của chúng có thể là bất kỳ màu nào trong khoảng từ vàng đến đỏ-da cam, với những khu vực màu trắng trên ngực, cổ, cũng như phần bên trong của chân. Một biến thể gen lặn phổ biến là Hổ trắng, có thể xuất hiện với sự tổ hợp phù hợp của bố mẹ chúng, chúng không phải là những con thú bạch tạng. Hổ đen hay hổ nhiễm hắc tố cũng được thông báo là có, nhưng chưa có các mẫu sống kiểm chứng. Ngoài ra còn tồn tại nòi hổ khoang vàng (còn gọi là "hổ vàng" hay "hổ khoang") chúng có màu vàng nhưng nhạt hơn màu của hổ bình thường, và các vằn là màu nâu. Biến thể về màu sắc này rất hiếm, chỉ có một nhóm nhỏ hổ khoang vàng tồn tại và đều trong tình trạng bị giam cầm. Trong các tài liệu cổ có nhắc đến hổ 'lam', thực ra là có tông màu xám bạc, mặc dù chưa có chứng cứ tin cậy.
Các vằn của phần lớn các nòi hổ dao động trong khoảng nâu/xám tới đen thuần, mặc dù hổ trắng có rất ít các vằn. Hình dạng và mật độ các vằn thay đổi theo từng nòi, nhưng phần lớn các nòi đều có trên 100 vằn. Hổ Java nay đã tuyệt chủng có thể có nhiều hơn. Các mẫu vằn là duy nhất cho từng cá thể, và vì thế có thể sử dụng để xác định từng cá thể giống như mẫu vân tay ở người. Tuy nhiên điều này không phải là phương pháp được ưa thích để xác định, vì sự khó khăn trong việc ghi chép các mẫu vằn của hổ hoang dã. Mục đích của các vằn có lẽ là để ngụy trang, giúp chúng coi là ẩn đối với các con mồi (có rất ít các loài thú có cảm giác màu như con người, vì thế màu sắc chưa hẳn đã là vấn đề quan trọng như người ta vẫn nghĩ).
Hổ chế ngự con mồi của chúng từ mọi góc, thông thường từ những cuộc tập kích và cắn cổ, thông thường là để làm gãy cột sống hay khí quản của con mồi, hay làm tổn thương tĩnh mạch hoặc động mạch cảnh.
Là một con thú bơi lội giỏi, hổ có khả năng giết chết con mồi ngay cả khi chúng đang bơi. Một số con hổ thậm chí phục kích cả các con thuyền để bắt người hay cá của họ.
Có chín nòi (phân loài) hổ khác nhau, ba trong số đó đã tuyệt chủng và một có thể cũng sẽ tuyệt chủng trong tương lai gần. Cụ thể như sau:
Khu vực sinh sống trong lịch sử của chúng (thu nhỏ một cách đáng kể ngày nay) chạy từ Nga, Siberi, Iran, Afghanistan, Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á, bao gồm cả quần đảo Indonesia. Dưới đây là các nòi còn sống sót, theo trật tự tăng dần của quần thể hoang dã:
Không có nhiều hoá thạch của loài hổ được tìm thấy, ngoại trừ những hoá thạch tìm thấy hầu hết ở Đông Nam Á thuộc kỷ Pleistocene. Tuy nhiên, có những phần hoá thạch 100.000 năm tuổi của hổ tìm thấy ở Alaska. Có lẽ thông qua đường nối giữa Siberia và Alaska trong kỷ Băng hà, con hổ này thuộc quần thể hổ Bắc Mỹ của nòi hổ Siberia. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng phát hiện mối tương đồng giữa xương hổ với loài sư tử châu Mỹ: một loài họ mèo tuyệt chủng đã thống trị vùng Bắc Mỹ khỏang 10.000 năm trước. Những phát hiện mâu thuẫn này dẫn đến một giả thuyết rằng loài sư tử châu Mỹ có nguồn gốc là một loài hổ lục địa mới.
Những hoá thạch của loài hổ được khai quật được ở Nhật Bản cho thấy loài hổ Nhật Bản không lớn hơn các nòi hổ thuộc các đảo cùng thời kỳ. Hiện tượng này có lẽ là do mối tương quan giữa kích thước cơ thể và khoảng không gian trống cũng như mật độ con mồi không nhiều.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng.
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc,
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta là chúa tể muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Thế Lữ, Nhớ rừng (trích)
Trong ngôn ngữ nước ngoài, từ tigre được vay mượn từ tiếng Hy Lạp tigris, bản thân từ này lại vay mượn từ tiếng Ba Tư (Zie). Từ Anh-Mỹ tigress lần đầu tiên được ghi lại năm 1611. Mắt hổ "yellowish-brown quartz" được ghi lại năm 1891.
Hổ đã gây cảm hứng đến nhiều người. Cả Rudyard Kipling trong The Jungle Books và William Blake trong Songs of Experience miêu tả nó như là con thú dữ tợn và đáng e sợ. Trong The Jungle Books, con hổ Shere Khan là kẻ thù lớn nhất và nguy hiểm nhất của Mowgli, ông vua không ngai của rừng rậm nhiệt đới.
Đặc biệt, đối với văn hóa Việt Nam, hổ là biểu tượng của sự hùng cường của sức mạnh vô song. Nhiều tác phẩm văn học đã viết về hình tượng của hổ, một trong số đó là bài thơ Nhớ rừng (Lời con hổ trong vườn bách thú) của Thế Lữ.
Thậm chí trong truyện tranh Calvin and Hobbes của Bill Watterson, Hobbes là con hổ đôi khi thoát ra khỏi vai trò của nó như là một con thú để ôm ấp.
Ở một khía cạnh khác là Tigger, con hổ trong truyện Winnie the Pooh của A. A. Milne, là con hổ luôn luôn đem lại may mắn và không bao giờ đem lại sự sợ hãi. Trong tác phẩm A Tiger for Malgudi đoạt giải, Yogi là con hổ tốt.
Con hổ cũng là biểu tượng của Thế vận hội 1988 ở Seoul. Hổ cũng được sử dụng trong quảng cáo hàng hóa như xăng dầu và đồ ăn nhanh.
Gần đây nhất, Yann Martel đã đoạt giải Man Booker Prize năm 2002 với tiểu thuyết Cuộc đời của Pi (Life of Pi) về cậu bé Ấn Độ sống sót trên Thái Bình Dương với con hổ Bengal.
| Những thông tin y khoa của Wikipedia Tiếng Việt chỉ mang tính chất tham khảo và không thể thay thế ý kiến chuyên môn. Trước khi sử dụng những thông tin này, đề nghị liên hệ và nhận sự tư vấn của các bác sĩ chuyên môn. |
Đối với y học Đông phương thì hổ có thể cung cấp nhiều phương thuốc quí hiếm như thuốc bổ dưỡng, tăng cường sinh lực, và chữa các loại bệnh về sinh lý. Xương hổ được dùng để nấu thành cao gọi là cao hổ cốt, giúp trị bệnh suy dinh dưỡng, đau khớp. Hiện nay, vẫn có nhiều người tin rằng các chế phẩm từ hổ có thể đem lại nhiều may mắn thịnh vượng hay trừ được tà ma. Một phần do sự khai thác hổ lấy da, một phần để thỏa mãn lòng tin trên, và một phần cũng vì tìm cách để bào chế các lọai thuốc nhằm chữa trị những căn bệnh mà y học hiện đại chưa tìm ra cách chữa mà hổ tại các nước Á châu đặc biệt là ở Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng.