| Bài viết này có nhiều yêu cầu chú thích nguồn gốc chưa được đáp ứng. Xin giúp cải thiện bài viết bằng cách chú giải từ các nguồn có uy tín để người đọc có thể kiểm chứng được thông tin. Những câu văn hay đoạn văn không có chú thích kiểm chứng được có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào. |
Tổng thống Hoa Kỳ, còn được gọi là ông chủ Nhà Trắng, là nguyên thủ quốc gia của đất nước này. Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, đồng thời là tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ. Với địa vị của Hoa Kỳ hiện nay trên thế giới, chức danh tổng thống Hoa Kỳ được nhiều người biết đến qua cách gọi nhân vật số một của thế giới.
Phần lớn, các tổng thống Hoa Kỳ xuất thân từ đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, với nhiệm kỳ bốn năm một lần. Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên là George Washington, nắm quyền từ năm 1789 đến năm 1797. Tổng thống đương nhiệm, George W. Bush, là tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ, với những chức vụ lãnh đạo có nhiều quyền lực nhất trên thế giới, ông lãnh đạo một tổ chức với bốn triệu nhân viên[cần dẫn nguồn], trong đó có một triệu quân nhân[cần dẫn nguồn]. Ngoài ra, tổng thống có nhiều quyền lập pháp và tư pháp. Từ năm 2001, mức lương của tổng thống Hoa Kỳ là 400.000 USD hàng năm, tương đương với 6,5 tỉ đồng/ năm[cần dẫn nguồn].
Theo hiến pháp Hoa Kỳ, tổng thống cũng như các nhân viên chính phủ cao cấp khác sẽ bị cách chức khi phạm tội phản quốc, nhận hối lộ, hay những trọng tội khác. Hạ nghị viện là cơ quan duy nhất có quyền kết tội, thượng nghị viện là cơ quan duy nhất có quyền xét xử tội trạng của tổng thống. Trong lịch sử Hoa Kỳ, chỉ có hai tổng thống bị luận tội, nhưng đều vượt qua được đó là Andrew Johnson và Bill Clinton, ngoài ra tổng thống Richard Nixon tự từ chức trước khi bị luận tội trong vụ Watergate.
| Hoa Kỳ |
Mục lục |
Khoản I, điều 2 thuộc Hiến pháp Hoa Kỳ quy định: "ứng cử viên tổng thống phải là công dân Hoa Kỳ, được sinh ra trên đất nước này, tuổi từ 35 trở lên, và cư trú tại Hoa Kỳ ít nhất 14 năm .
Tiêu chuẩn công dân sinh tại bản địa đã được bàn cãi nhiều lần trong những năm gần đây. Một số người cho rằng điều kiện này loại trừ nhiều người đủ tư cách, và không xem trọng những đóng góp của những người nhập cư. Một số tu chính án nhằm sửa đổi điều này đã được đề nghị nhưng chưa được chấp thuận.
Một nhiệm kỳ tổng thống kéo dài 4 năm. Tu chính án thứ 22 (có hiệu lực năm 1951) quy định một người chỉ có thể giữ chức vụ tổng thống tối đa 2 nhiệm kỳ hoặc tối đa 10 năm nếu vị Tổng thống trước đó cầm quyền ít hơn 2 năm. Từ đó đến nay đã có ba vị Tổng thống nắm quyền trong hai nhiệm kỳ đầy đủ, đó là Dwight Eisenhower, Ronald Reagan và Bill Clinton. Tổng thống đương nhiệm George W. Bush sẽ trở thành người thứ tư khi ông hoàn tất nhiệm kỳ ông đang giữ.
Bầu cử tổng thống là sự kiện bầu cử sôi nổi nhất tại Hoa Kỳ, diễn ra 4 năm một lần. Theo quy định của Hiến pháp, cử tri (voter) bỏ phiếu bầu đại cử tri (elector) trong các cuộc bầu cử phổ thông (popular vote) dựa vào tuyên bố của họ về việc sẽ bầu cho ai làm tổng thống và sau đó đại cử tri bỏ phiếu bầu tổng thống và phó tổng thống. Để trở thành tổng thống, ứng viên tổng thống phải giành được ít nhất 270 phiếu đại cử tri. Thực tế, các đại cử tri thường bỏ phiếu theo ý chí và nguyện vọng của người dân thể hiện qua kết quả của bầu cử phổ thông[cần dẫn nguồn]. Do đó, hệ thống đại cử tri không thật sự đóng một vai trò lớn lao. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ứng viên tổng thống dành được nhiều phiếu bầu phổ thống hơn nhưng lại dành được ít phiếu đại cử tri hơn và thua cuộc. Tính dân chủ của hệ thống đại cử tri vẫn là một đề tài gây tranh luận sôi nổi hiện nay.
Trong hệ thống đại cử tri, mỗi tiểu bang đề cử một số đại cử tri bằng với số ghế của bang đó trong Quốc hội. Vì mỗi bang có 2 thượng nghị sĩ và ít nhất 1 dân biểu (hạ nghị sĩ), số đại cử tri tối thiểu của một bang là 3 người. Riêng Thủ đô Washington tuy không phải là một bang nhưng được đặc cách cử 3 đại cử tri.
Mỗi đại cử tri bỏ phiếu bầu một ứng cử viên cho chức vụ tổng thống và một ứng cử viên cho chức vụ phó tổng thống. Ứng cử viên thắng cử phải chiếm được đa số phiếu bầu. Nếu không ai chiếm được đa số phiếu, Hạ nghị viện sẽ chọn ra Tổng thống (nếu trường hợp xảy ra với ứng cử viên tổng thống); và Thượng nghị viện sẽ chọn ra Phó tổng thống (nếu trường hợp xảy ra với ứng viên phó tổng thống). Sau khi thắng cử (hay tái đắc cử) Tổng thống sẽ đọc lời tuyên thệ trong Lễ nhận chức ngày 20 tháng 1. Sau đó, Tổng thống thường đọc một bài diễn văn nhận chức, xác định rõ đường lối của mình trong nhiệm kỳ thắng cử.
Thủ tục bầu cử tổng thống hiện đại bắt đầu trong các cuộc bầu cử sơ bộ, khi các đảng chính (nay là Dân chủ và Cộng hòa) chọn một ứng cử viên ra tranh cử; ứng cử viên này chọn một người cùng đảng ứng cử chức Phó tổng thống để cùng đứng chung một phiếu. Hai ứng cử viên chính đua tranh nhau trong cuộc tổng tuyển cử, thường tham gia trong các cuộc tranh luận trên truyền hình trước ngày bầu cử và vận động toàn quốc.
Theo Điều II, Khoản I, câu 8 của hiến pháp, sau khi nhận chức, Tổng thổng phải đọc câu tuyên thệ (hay thề) sau đây: "Tôi trân trọng tuyên thệ (hoặc thề) rằng tôi sẽ giữ chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ với lòng trung thành và tận dụng hết khả năng của mình để duy trì, giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ." Chỉ hai vị Tổng thống đã thề thay vì tuyên thệ (Franklin Pierce và Herbert Hoover). Lời tuyên thệ thường được kết thúc bằng "Chúa giúp tôi," nhưng vì lý do tôn giáo một vài Tổng thống đã nói "Giúp tôi."
Chức vụ tổng thống Hoa Kỳ là một trong những chức vụ lãnh đạo có nhiều quyền lực nhất trên thế giới. Tổng thống phải "đôn đốc việc thi hành pháp luật một cách đúng đắn". Để làm nhiệm vụ, Tổng thống cai quản bộ máy hành pháp của chính phủ liên bang — một tổ chức bao gồm 4 triệu nhân viên, trong đó có 1 triệu là nhân viên quân sự. Thêm vào đó, Tổng thống có nhiều quyền lập pháp và tư pháp.
Trong bộ máy hành pháp, Tổng thống có nhiều quyền điều hành sự việc của chính phủ liên bang. Tổng thống có quyền tạo ra điều lệ, quy định và chỉ thị gọi là mệnh lệnh hành pháp (executive order), có hiệu lực như là luật trong các cơ quan liên bang nhưng không cần thông qua quốc hội. Với tư cách Tổng tư lệnh của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, Tổng thống còn có quyền điều khiển những Lực Lượng Quốc Phòng (National Guards) của mỗi tiểu bang. Trong tình huống chiến tranh hay trường hợp khẩn cấp, Quốc hội có thể cấp cho Tổng thống nhiều quyền hơn để quản lý nền kinh tế và bảo vệ an ninh Hoa Kỳ.
Tổng thống bổ nhiệm tất cả các bộ trưởng và hàng trăm nhân viên cấp cao liên bang khác với sự đồng ý của Thượng nghị viện. Trong năm 2003, trên 3.000 chức vụ trong bộ hành pháp được Tổng thống bổ nhiệm, trong đó trên 1.200 cần có sự đồng ý của Thượng nghị viện. Tuy nhiên, hầu hết các nhân viên trong chính quyền liên bang được chọn theo hệ thống dân chính, khi việc bổ nhiệm và lên chức được căn cứ theo khả năng và kinh nghiệm.
Tổng thống cũng có trách nhiệm chuẩn bị ngân sách Hoa Kỳ, nhưng cần phải được quốc hội phê chuẩn.
Tuy hiến pháp có nói "tất cả quyền lập pháp" của chính phủ liên bang được nằm trong tay Quốc hội, Tổng thống cũng đóng một vai trò lập pháp quan trọng vì ông có quyền định chính sách. Tổng thống có quyền phủ quyết bất cứ đạo luật nào từ Quốc hội, và trừ khi có hơn 2/3 số nghị sĩ trong mỗi nghị viện bỏ phiếu bác bỏ phủ quyết, đạo luật sẽ không có hiệu lực.
Nhiều đạo luật mà Quốc hội đề cập đến thường được ngành hành pháp phác thảo ra. Trong những thông điệp hằng năm và đặc biệt, Tổng thống có thể đề xuất những đạo luật ông tin là cần thiết. Thông điệp quan trọng nhất là Thông điệp Liên Bang trước Quốc hội, thường được phát biểu trong tháng 1 mỗi năm. Trước cả hai nghị viện, Tổng thống báo cáo Quốc hội về tình trạng của Liên bang và đề nghị Quốc hội xem xét những biện pháp mà Tổng thống thấy cần thiết và thích hợp. Nếu Quốc hội hoãn trước khi xem xét những đạo luật này, Tổng thống có quyền triệu tập Quốc hội lại. Ngoài vai trò chính thức này, Tổng thống với tư cách là người lãnh đạo một đảng và là nhân vật quan trọng nhất trong bộ máy hành pháp của chính phủ, có thể ảnh hưởng đến dư luận và vì thế ảnh hưởng các luật được Quốc hội xem xét.
Để cải tiến mối quan hệ trong việc làm việc với Quốc hội, trong những năm gần đây Tổng thống có đặt ra một Văn phòng Liên lạc Quốc hội trong Nhà Trắng. Các nhân viên phụ tá theo dõi những hoạt động lập pháp và cố gắng thuyết phục các nghị sĩ của cả hai đảng để họ ủng hộ các chính sách được Tổng thống đưa ra.
Một trong những quyền hiến pháp cấp cho Tổng thống là quyền bổ nhiệm các viên chức quan trọng. Tổng thống có quyền bổ nhiệm các quan tòa liên bang, kể cả các thẩm phán trong Tòa án tối cao, nhưng phải được Thượng nghị viện chấp thuận. Một quyền quan trọng khác là quyền hủy bỏ bản án hoặc ân xá bất cứ ai phạm luật liên bang (trừ các vụ xét xử cách chức). Nhiều tổng thống đã dùng quyền này để giảm án nhiều tội nhân.
Theo hiến pháp, Tổng thống là viên chức chủ yếu trong quan hệ đối ngoại giữa Hoa Kỳ với các nước khác. Tổng thống có quyền bổ nhiệm các đại sứ, bộ trưởng và lãnh sự (đều cần sự đồng ý của Thượng nghị viện), và tiếp nhận các đại sứ và viên chức từ các nước khác. Cùng với bộ trưởng bộ ngoại giao (ngoại trưởng), Tổng thống quản lý mọi liên lạc chính thức với các nước khác. Có khi Tổng thống sẽ đích thân tham dự trong các cuộc hội nghị thượng đỉnh, nơi mà các nhân vật nguyên thủ quốc gia họp mặt để đàm phán. Vì lẽ đó, Tổng thống Woodrow Wilson đã dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ trong Hội nghị Paris sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc; Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã gặp mặt các nhà lãnh đạo phe Đồng Minh trong Đệ nhị thế chiến; và từ đó, các Tổng thống Hoa Kỳ đã đàm phán với các nhà lãnh đạo các nước khác các vấn đề kinh tế và chính trị để dẫn đến thoả thuận song phương hay đa phương.
Qua Bộ ngoại giao và Bộ quốc phòng, Tổng thống có trách nhiệm bảo vệ người Mỹ đang ở nước ngoài và những người quốc tịch khác trong Hoa Kỳ. Tổng thống có quyền công nhận hay không công nhận các chính phủ hay quốc gia mới thành lập và thương lượng hiệp ước với các quốc gia khác; những hiệp ước này sẽ có hiệu lực tại Hoa Kỳ khi được Thượng nghị viện phê chuẩn với 2/3 đa số. Tổng thống cũng có quyền thương lượng các "Hiệp định hành chính" với những nước khác mà không cần Thượng nghị viện phê chuẩn.
Vì Tổng thống đóng nhiều vai trò và có nhiều trách nhiệm, cộng với sự hiện diện rõ rệt trong chính trị trong nước cũng như trên thế giới, nhiều người đã nhấn mạnh các quyền lực của Tổng thống. Nhiều người cũng nói đến một "chức tổng thống uy quyền", nói đến vai trò quan trọng của chức vụ mà Franklin D. Roosevelt đã mở rộng trong nhiệm kỳ của ông.
Một trong những sự thật khiến một Tổng thống mới phải tỉnh táo là một cấu trúc công chức được để lại rất khó quản lý và đổi hướng. Tổng thống chỉ có quyền bổ nhiệm khoảng 3.000 trong một hệ thống chính phủ có hơn 3 triệu nhân viên.
Tổng thống thường nhận thấy bộ máy chính phủ (dân chính) tự hoạt động mà không cần Tổng thống xen vào, và đã hoạt động như vậy trong quá khứ cũng như trong tương lai. Những tổng thống mới thường phải miễn cưỡng với những quyết định từ chính quyền tổng thống trước. Họ được để lại một ngân sách đã được viết và thành luật trước khi họ nhận chức, cũng như những chương trình chi tiêu (như phúc lợi cho cựu quân nhân, tiền An sinh Xã hội, và bảo hiểm y tế Medicare cho người già), tất cả đều phải thi hành theo luật. Trong vấn đề đối ngoại, Tổng thống cũng phải đương đầu với những hiệp ước và thoả thuận mà các tổng thống trước đã ký kết.
Sau khi "phởn phơ" trong 100 ngày đầu tiên sau khi được bầu cử (được gọi là "thời kỳ trăng mật"), Tổng thống mới phải đương đầu với một quốc hội ít hợp tác và các nguồn thông tin đại chúng phê phán nhiều hơn. Tổng thống buộc phải xây dựng những liên minh (có thể tạm thời) giữa những thế lực có các điều quan tâm khác nhau, có khi trái ngược nhau — về kinh tế, địa lý, chủng tộc, hay tư tưởng. Tổng thống phải thỏa hiệp với Quốc hội nếu muốn thông qua một đạo luật mới. Tổng thống John F. Kennedy đã than thở, "Đánh bại một dự luật trong Quốc hội rất dễ, nhưng thông qua một dự luật thì rất khó".
Tuy có những giới hạn này, mỗi Tổng thống đều đạt được ít nhất một phần của các mục tiêu pháp luật và ngăn ngừa một số dự luật ông tin rằng không tốt bằng cách dùng quyền phủ quyết. Quyền lực tổng thống trong quyết định chiến tranh và hòa bình, kể cả việc điều đình các hiệp ước, rất đáng kể. Tổng thống cũng có thể dùng chức vụ đặc biệt của mình để biện hộ và giải thích ý mình với quần chúng, được nhiều người chú ý hơn các chính trị gia khác.
Tuy bị giới hạn bởi các luật lệ đã được Quốc hội thông qua, bộ máy hành pháp của Tổng thống điều khiển hầu hết mọi chính sách ngoại giao, và quyền điều khiển quân đội với tư cách Tổng tư lệnh cũng đáng chú ý.
Theo hiến pháp, Tổng thống, Phó tổng thống và các viên chức dân sự sẽ bị cách chức khi bị buộc tội phản quốc, nhận hối lộ, hay những tội nghiêm trọng khác.
Hạ nghị viện là nơi duy nhất có quyền kết tội các viên chức. Sau khi Tổng thống bị Hạ nghị viện buộc tội, Thượng nghị viện là nơi duy nhất có quyền xét xử. Khi nhóm họp để xét xử, các thượng nghị sĩ sẽ phải tuyên thệ hoặc thề. Trong trường hợp xét xử Tổng thống, Chánh án Tòa án Tối cao sẽ chủ tọa phiên tòa. Không một ai bị kết án nếu không được sự nhất trí của hai phần ba các thượng nghị sĩ có mặt.
Trong lịch sử Hoa Kỳ, chỉ có hai Tổng thống bị luận tội, nhưng đều vượt qua được. Hai người này là Andrew Johnson vì đã cách chức Bộ trưởng Chiến tranh Edwin Stanton sau khi quốc hội đã ban ra luật để bảo vệ ông trong chức này, và Bill Clinton vì khai man trước tòa và cản trở công lý. Vì vụ bê bối Watergate, Tổng thống Richard Nixon đã từ chức trước khi bị luận tội.
Hiến pháp viết rằng nếu một Tổng thống bị qua đời, từ chức, hay bị cách chức, thì mọi "quyền lực và nhiệm vụ" sẽ chuyển giao cho Phó Tổng thống, nhưng không nói rõ rằng Phó tổng thống sẽ chính thức giữ chức Tổng thống hay chỉ đóng vai Tổng thống thôi. Sau khi Tổng thống William Henry Harrison qua đời, Phó tổng thống John Tyler cho rằng ông đã trở thành Tổng thống, chứ không chỉ đóng vai Tổng thống, và tất cả các trường hợp tương tự sau này cũng đã theo tiền lệ này.
Tu chính án thứ 25 loại bỏ điều mơ hồ này bằng cách xác nhận rằng Phó tổng thống sẽ là người kế vị Tổng thống cũng như nói rõ thủ tục Phó tổng thống có thể kế nhiệm Tổng thống khi Tổng thống bị tàn phế. Đạo luật Kế vị tổng thống năm 1947 đã viết rõ danh sách người kế vị gồm 17 viên chức, theo thứ tự như sau:
(Bộ trưởng An ninh nội địa không có trong danh sách vì chức vụ này mới đặt ra sau vụ khủng bố 11 tháng 9.)
Từ xưa đến nay chưa ai ngoài Phó tổng thống được kế nhiệm làm Tổng thống.
| Ngày thành lập | Lương |
|---|---|
| 24 tháng 9, 1789 | $25.000 |
| 3 tháng 3, 1873 | $50.000 |
| 4 tháng 3, 1909 | $75.000 |
| 19 tháng 1, 1949 | $100.000 |
| 20 tháng 1, 1969 | $200.000 |
| 20 tháng 1, 2001 | $400.000 |
Quốc hội Hoa Kỳ trong lần bầu đầu tiên đã chọn trả lương cho ông George Washington $25.000 mỗi năm — một số tiền khá lớn vào thời đó. Washington, vì là một người giàu có, đã không nhận số tiền lương này.[cần dẫn nguồn]
Từ năm 2001, Tổng thống được trả lương $400.000 mỗi năm.
Theo lệ, Tổng thống với tư cách là viên chức quan trọng nhất trong chính phủ Hoa Kỳ, là nhân viên chính phủ được trả lương cao nhất. Vì thế, lương của tổng thống là mức lương tối đa cho tất cả các viên chức liên bang khác, như là Chánh án Tòa án Tối cao. Việc tăng lương cho năm 2001 đã được Quốc hội và Tổng thống Bill Clinton phê chuẩn trong năm 1999 vì lương các viên chức khác (được tăng bù cho sự mất giá của đồng tiền do lạm phát) đang gần cao bằng lương tổng thống. Vì thế, nếu muốn nâng lương các viên chức liên bang khác, mức lương của tổng thống cũng phải được nâng lên.
Ngoài lương bổng, các tổng thống thời nay còn có những tiêu chuẩn khác như được làm việc trong tòa Nhà Trắng, một biệt thự 6 tầng ở Washington, D.C.. Trong lúc du hành, Tổng thống có thể làm việc trong một văn phòng trên một số máy bay Boeing 747 được thiết kế đặc biệt cho Tổng thống, được dùng tín hiệu Không Lực Một (Air Force One) khi có Tổng thống hiện diện. Tổng thống du hành quanh Washington trên một chiếc xe limousine Cadillac bọc thép, được trang bị với cửa kính và bánh xe chống đạn, có hệ thống điều hòa không khí riêng để đề phòng trường hợp bị tấn công sinh học hay hóa học. Khi du hành xa hơn trong khu vực Washington, Tổng thống sử dụng máy bay trực thăng, được dùng tín hiệu Thủy Quân Lục Chiến Một (Marine One) khi có Tổng thống hiện diện. Thêm vào đó, Tổng thống cũng có thể sử dụng Trại David tại Maryland, một trại hóng mát rất lớn thường được dùng để tiếp đãi các quan khách quan trọng nước ngoài.
Tổng thống và gia đình luôn được Cơ quan Mật vụ bảo vệ. Cho đến năm 1997, tất cả các cựu Tổng thống và gia đình họ cũng được bảo vệ cho đến khi cựu Tổng thống qua đời[cần dẫn nguồn]. Tổng thống cuối cùng được bảo vệ suốt đời là Bill Clinton; George W. Bush và tất cả các Tổng thống sau này sẽ chỉ được Cơ quan Mật vụ bảo vệ 10 năm sau khi rời chức vụ.
Tổng thống cũng được nhiều tiêu chuẩn khác sau khi rời chức vụ như quyền gửi thư miễn phí, được cung cấp văn phòng, quyền giữ hộ chiếu ngoại giao và một ngân khoản để mướn người trợ giúp. Việc này chỉ được xảy ra sau Harry S. Truman mãn nhiệm (1953). Thêm vào đó, Tổng thống được Cục Quản lý Văn thư và Hồ sơ Quốc gia cấp ngân quỹ sau khi rời chức vụ để thành lập một thư viện tổng thống. Những thư viện này không phải là thư viện bình thường, mà là nơi lưu trữ để duy trì và làm công khai các giấy tờ, hồ sơ, và các di tích lịch sử khác cho mỗi Tổng thống từ Herbert Hoover.
Để đảm bảo an ninh cho Tổng thống, Phó tổng thống và gia đình 2 người, các cơ quan an ninh Hoa Kỳ đặt mật danh cho từng người. Tổng thống mới đắc cử năm 2008 Barack Obama có mật danh "Kẻ phản bội" (Renegade) trong khi Phó tổng thống mới đắc cử Joe Biden được gọi là Celtc (bắt nguồn từ gốc gác Ireland của ông. Hai đời tổng thống cha con George H. W. Bush và George W. Bush có mật danh lần lượt là "Chó sói" (Timberwolf) và "Chiếc cốc vại" (Tumbler). Tổng thống Bill Clinton được đặt tên là "Đại bàng" (Eagle) còn ông Ronald Reagan có mật danh "Chiếc roi da" (Rawhide).[1]
Danh sách sau đây là những người đã giữ chức Tổng thống Hoa Kỳ từ khi Hiến pháp Hoa Kỳ có hiệu lực.
1 Qua đời trong lúc làm phó tổng thống.
2 Từ chức trong lúc làm phó tổng thống.
3 Qua đời vì lý do tự nhiên.
4 Người theo đảng Dân chủ trong phiếu Whig.
5 Qua đời trong lúc làm phó tổng thống, không có người kế vị.
6 Bị ám sát.
7 Người theo đảng Dân chủ trong phiếu Liên bang với người theo đảng Cộng hòa Lincoln.
8 Từ chức.
9 Nhận chức chậm hơn bình thường.