Netencyclo tiếng Việt, The wikipedia mirror - The biggest multilingual encyclopedia : Ưng Nhân chiến tranh

- Ưng Nhân chiến tranh -

Ưng Nhân chiến tranh :

Chiến tranh Ōnin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Ưng Nhân chiến tranh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đánh dấu điểm bùng nổ Chiến tranh Ōnin

Chiến tranh Ōnin (応仁の乱 Ōnin no Ran?) là cuộc nội chiến từ năm 1467 đến năm 1477 trong thời MuromachiNhật Bản].[1] Một cuộc cãi cọ giữa Hosokawa KatsumotoYamana Sōzen leo thang thành một cuộc nội chiến của Mạc phủ Ashikaga và rất nhiều daimyo ở khắp các vùng của nước Nhật.

Cuộc chiến mở đầu Sengoku jidai, "thời kỳ Chiến quốc". Thời kỳ này là cuộc đọ sức dai dẳng và khốc liệt của các daimyo, dẫn đến hàng loạt cuộc chém giết giữa nhiều gia đình thống trị trên toàn nước Nhật. Mặc dù, trong thời kỳ đó, có ba nhân vật nổi lên đưojwc coi là ba daimyo vĩ đại của thời kỳ Sengoku, những người cuối cùng thống nhất Nhật Bản, đó là Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi, và Tokugawa Ieyasu.

Mục lục

[sửa] Các trận đánh

Cho đến tháng 7 năm 1467 giao tranh đã trở nên căng thẳng, và đây là lúc Chiến tranh Ōnin được cho là đã bắt đầu. Cho đến tháng 9, phần phía Bắc của Kyoto bị phá hủy, và ai chạy được khỏi Kyoto đều bỏ đi.

Cả Yamana Sōzen và Hosokawa Katsumoto đều chết năm 1473, và thậm chí sau đó, cuộc chiến vẫn tiếp tục, cả hai phe đều không biết nên chấm dứt chiến tranh như thế nào. Tuy vậy, cuối cùng gia tộc Yamana mất tinh thần khi cái mác “phản tặc” cuối cùng cũng có chút tác dụng. Ōuchi Masahiro, một trong các vị tướng của Yamana, cuối cùng đốt cháy khu vực của mình ở Kyoto và rời khỏi khu vực này. Cho đến năm 1477, 10 năm sau khi chiến sự bắt đầu, Kyoto chỉ còn là địa điểm cho đám trộm cướp ra vào hôi của và lấy tất cả những gì còn sót lại. Cả hai gia tộc Yamana và Hosokawa đều không đạt được mục đích của mình, trừ việc hạ được nhiều người của gia tộc đối địch.

Trong suốt thời kỳ thử thách ấy, Shogun không làm được gì để xoa dịu tình hình.[2] Trong khi Kyoto bốc cháy, Ashikaga Yoshimasa đang bận đọc thơ và thưởng thức các loại hình văn hóa khác, và ấp ủ việc xây dựng Ginkaku-ji, Đền Bạc đối nghịch với Kinkaku-ji, Đền Vàng, mà cha ông, Ashikaga Yoshimitsu, đã xây dựng.[3]

Chiến tranh Ōnin, thái độ tự mãn của Shogun với cuộc chiến, tạo tiền lệ cho các cuộc chiến tranh và đụng độ riêng rẽ giữa các daimyo khác. Không có phần nào của nước Nhật không có chiến sự. Mặc dù các trận đánh tại Kyoto bị cấm, chiến tranh lan rộng ra phần còn lại của nước Nhạt. Ở tỉnh Yamashiro, gia tộc Hatakeyama bị chiến sự chia làm đôi cho đến một thế lưỡng nan cầm cự. Sự bế tắc này cũng có một hậu quả nghiêm trọng. 1485, nông dân và ji-samurai (samurai cấp thấp) không chịu đựng được nữa, và nổi dậy. Thành lập quân đội của riêng mình ('Ikki'), họ buộc quân đội của gia tộc phải rời khỏi tỉnh này. Ikki trở thành một thế lực mạnh hơn nhiều so với một đám du thử du thực có vũ khí. Cho đến năm 1486, họ thậm chí còn thành lập chính quyền cấp tỉnh tại tỉnh Yamashiro.

Ikki sẽ được thành lập và xuất hiện ở khắp nước Nhật, ví dụ như tỉnh Kaga, nơi một hệ phái của Phật giáo Tịnh Độ chân tông, Ikkō, nổi dậy trong chiến tranh Onin sau khi giành được cảm tình của một trong những lãnh chúa nổi bật nhất ở Kaga, Togashi Masachika. Ikkō, có một mối quan hệ phức tạp với trụ trì Tịnh Độ chân tông Rennyo, thu hút các nông dân thường về vùng đất của họ, và sau đó thành lập Ikkō-ikki. Cho đến năm 1488 Ikkō-ikki của tỉnh Kaga đuổi Masachika và các lãnh chúa khác đi, dành quyền kiểm soát tỉnh này. Sau đó, họ xây dựng thành lũy kiêm chùa chiền dọc sông Yodo và lấy đó làm tổng hành dinh của mình. Ikkō-ikki và Yamashiro-ikki là một cuộc cách mạng, trong thời kỳ có tên gọi gekokujō ("hạ khắc thượng").

[sửa] Sau trận chiến

Sau chiến tranh Ōnin, Mạc phủ Ashikaga hoàn toàn suy sụp; về mọi mặt triều chính đều do gia tộc Hosokawa đảm nhiệm và Shogun Ashikaga trở thành con rối trong tay họ. Khi con trai của Yoshimi là Yoshitane lên ngôi Shogun năm 1490, gia đình Kanrei (phó Shogun) Hosokawa nhanh chóng buộc ông phải tháo chạy năm 1493, và lập Ashikaga Yoshizumi làm Shogun. Năm 1499, Yoshitane đến Yamaguchi, thủ phủ của nhà Ōuchi, và gia đình hùng mạnh hỗ trợ quân sự cho Yoshitane. Năm 1507, Kanrei Hosokawa Masamoto bị ám sát và năm 1508, Yoshizumi rời Kyoto và nhà Ōuchi lại đưa Yoshitane lên ngôi Shogun. Từ đó bắt đầu hàng loạt những cuộc giao tranh kỳ lạ giành quyền kiểm soát chính quyền bù nhìn Mạc phủ. Sau cái chết của Hosokawa Maysumoto, con nuôi của ông là Takakuni và Sumimoto bắt đầu đánh nhau tranh giành quyền kế vị ngôi Kanrei, nhưng chính Sumimoto lại trở thành con rối trong tay một chư hầu của mình. Điều này tiêu biểu cho các cuộc chiến tranh sau chiến tranh Onin, những cuộc chiến này là để kiểm soát chính quyền bù nhìn hơn là vì tư tưởng cao cả hay tham vọng về lãnh địa.

Gia tộc Hosokawa sẽ kiểm soát Mạc phủ cho đến năm 1558 khi họ bị một gia đình chư hầu phản bội, gia tộc Miyoshi. Nhà Ōuchi hùng mạnh cũng bị một chư hầu tiêu diệt, Mōri Motonari, năm 1551; cho đến khi kết thúc thời Chiến Quốc, chỉ có khoảng một tá các gia đình chiến binh vẫn còn tồn tại. Sự phát triển quan trọng nhất từ chiến tranh Onin là cuộc nội chiến không ngừng bùng lên ở bên ngoài kinh đo. Ví du như nhà Hosokawa cố xúi bẩy những cuộc giao tranh trong lãnh địa nhà Ouchi, và những cuộc đấu đá nội bộ này cuối cùng buộc nhà Ouchi phải bỏ đi. Từ khi kết thúc chiến tranh Onin, loại nội chiến này, cả các chư hầu nổi lên tiêu diệt các daimyo của họ hay việc tranh giành quyền thừa kế tước vị daimyo, diễn ra ở khắp nơi trên toàn nước Nhật.

Các học giả không đồng tình về tính thích hợp của cum từ "Chiến Quốc thời đại" (mượn từ cụm từ tiếng Trung, trong tiếng Nhật gọi thời kỳ này là "sengoku jidai"). Nhiều người cho rằng vì Nhật Bản về cơ bản không bị ảnh hưởng, Thiên hoàng và Mạc phủ ít nhất vẫn là người đứng đầu toàn bộ đất nước trên danh nghĩa, nó thực ra không phải là thời kỳ “chiến quốc”, mà là thời kỳ “chiến tướng”. Tuy vậy, những người khác như Mark Ravina[4], Mary Elizabeth Berry, và Conrad Totman cho rằng kuni (quốc) không giống các quốc gia có vẻ là độc lập, và vì thế cụm từ này không đúng lắm.

Cái giá phải trả cho mỗi daimyo rất ghê gớm, một thế kỷ giao tranh làm suy yếu nhiều daimyo, do đó ba nhân vật vĩ đại đã thống nhất Nhật Bản, bắt đầu là Oda Nobunaga, sẽ dễ dàng chinh phục từng người một bằng quân đội, thống nhất các thế lực quân sự cát cứ.

[sửa] Ōnin Ki

Ōnin Ki (応仁記) là một thư tịch viết vào khoảng từ cuối thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 16 (20 đến 80 năm sau cuộc chiến[5]), tả lại nguyên nhân và ảnh hưởng của chiến tranh Onin. Nó minh họa chi tiết các chiến lược trong trận đánh, và những kẻ chủ mưu như Yamana SōzenHosokawa Katsumoto.

Mặc dù nó được xếp vào loại các tác phẩm văn học lịch sử quân sự (軍記物語), vì thời gian nó được viết, hoàn toàn có thể nói rằng tác giả có liên hệ với một người đã đầu tiên ghi lại cuộc đại chiến này. Mặc dù không rõ tên tác giả, niềm tin và triết lý của ông thể hiện rõ ràng trong truyện kí, vì ông liên hệ sự phù phiếm của chiến tranh và sự hủy diệt nó mang lại cho kinh đô. Nó vẫn phần nào là một tác phẩm quan trọng vì việc nó không xa vào mô tả hàng loạt những trận chiến không có gì mới mẻ, thay vào đó tả thêm chi tiết về việc chiến tranh Onin đã ảnh hưởng đến các thành phố và cư dân thế nào:

"Kinh đô mà chúng ta tin rằng đã thịnh vượng cả chục ngàn năm giờ trở thành hang ổ cho loài chó sói. Thậm chí khu vực phía Bắc Toji cũng biến thành cát bụi ... Than vãn về hoàn cảnh khốn cùng của nhiều người hầu đã chết, Ii-o Hikorokusaemon-No-Jou read a passage:

'Giờ thành phố mà người đã biết
Đã hóa chốn đồng không,
Từ đó chiền chiện bay lên
Còn nước mắt ta rơi xuống.'"[6]

[sửa] Bảng niên đại

Nguồn gốc của chiến tranh Ōnin rất đa dạng. Nói rằng cuộc chiến này bắt đầu bằng cuộc cãi vã giữa hai lãnh chúa đang giận dữ là quá đơn giản. Giai đoạn đầu của cuộc chiến kéo dài cả thập kỷ này chỉ tia lửa thổi bùng lên một đám cháy lớn. Không đoán trước được hậu quả, chính quyền ở Kamakura đã nới lỏng sự kiềm chế của truyền thống trong xã hội Nhật Bản, điều này có nghĩa là những năng lượng mới được giải phóng, các tầng lớp mới ra đời, và sự vinh hoa mới được xác lập. Khi các nhân vật hùng mạnh nhất của Mạc phủ tranh giành ảnh hưởng ở Kyoto, các gia đình lãnh đạo các tỉnh tích lũy lực lượng và trở nên độc lập hơn với sự kiểm soát từ trung ương.[7]

Điềm báo trước[8]

Chiến sự bắt đầu [8]

Di chứng[8]

[sửa] Tham khảo

  1. ^ Trong cái tên Chiến tranh "Ōnin," danh từ "Ōnindùng để chỉ niên hiệu sau "Bunshō" và trước "Bunmei." Nói cách khác, chiến tranh Ōnin diễn ra trong thời Ōnin, từ năm 1467 đến năm 1469.
  2. ^ Turnbull, Stephen. (1996). The Samurai: A Military History, p. 109.
  3. ^ Turnbull, p. 114.
  4. ^ Ravina, Mark (1995). "State Building and Political Economy in Early Modern Japan." Journal of Asian Studies, 54:4, 999-1022.
  5. ^ "応仁記". http://ja.wikipedia.org/wiki/%E5%BF%9C%E4%BB%81%E8%A8%98, Retrieved July 8, 2007.
  6. ^ "応仁記47 - 洛中大焼けの事、その2". http://homepage1.nifty.com/sira/ouninki/ouninki47.html, Retrieved July 8, 2007. - A complete version of Chapter 47 of the Ōnin Ki in Japanese.
  7. ^ Sansom, George. (1961). A History of Japan, 1334-1615, p. 216.
  8. ^ a b c Sansom, p. 218.
  9. ^ Sansom, pp. 247-250.


[sửa] Xem thêm

Ưng Nhân chiến tranh - theo chủ đề

Ưng Nhân chiến tranh - Dự án liên quan

© 2008 Netencyclo - Netencyclo Trang Chính - Chính sách về sự riêng tư - Lời phủ nhận - Program Policies
Netencyclo, the Wikipedia mirror : the biggest multilingual free-content encyclopedia on the Internet. Sửa đổi lần cuối lúc 00:11, ngày 14 tháng 5 năm 2007. Tất cả nội dung được phép sử dụng theo Giấy phép Tài liệu Tự do GNU (xem Quyền tác giả để biết thêm chi tiết). All Wikipedia content is licensed under the GNU Free Documentation License (see details). Content on this web site is provided for informational purposes only. We accept no responsibility for any loss, injury or inconvenience sustained by any person resulting from information published on this site. We encourage you to verify any critical information with the relevant authorities.