Netencyclo tiếng Việt, The wikipedia mirror - The biggest multilingual encyclopedia : B-26 Marauder

- B-26 Marauder -

B-26 Marauder :

B-26 Marauder

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
B-26 Marauder
Kiểu Máy bay ném bom hạng trung
Hãng sản xuất Glenn L. Martin Company
Chuyến bay đầu tiên 25 tháng 11 năm 1940
Được giới thiệu 1941
Tình trạng nghỉ hưu
Hãng sử dụng chính Không lực Lục quân Hoa Kỳ
Được chế tạo 1941-1945
Số lượng được sản xuất 5.288[1]
Chi phí máy bay 102.659,33 Đô la (B-26A) [2]


Martin B-26 Marauder (kẻ cướp) là một kiểu máy bay ném bom tầm trung hai động cơ của Hoa Kỳ trong Thế Chiến II do hãng Glenn L. Martin Company chế tạo.

Là kiểu máy bay ném bom đầu tiên tại Mặt trận Thái Bình Dương và khu vực quần đảo Aleut vào năm 1942, nó cũng được sử dụng tại Mặt trận Tây Âu và trong Chiến dịch Bắc Phi. Chiếc máy bay được xem "là vũ khí ném bom chủ yếu trên Mặt trận Tây Âu" theo như một báo cáo của Không lực Lục quân Hoa Kỳ năm 1946, và cũng vì B-26B có số lượng tổn thất trong chiến đấu thấp nhất trong mọi máy bay chiến đấu trong Thế Chiến II. Thống kê về tổn thất có thể tương phản với biệt danh "Widowmaker" (kẻ tạo ra góa phụ) không chính thức của nó; do tỉ lệ tai nạn xảy ra khi cất cánh của phiên bản B-26A.

Có tổng cộng 5.288 chiếc được sản xuất từ tháng 2 năm 1941 đến tháng 3 năm 1945; trong đó 522 chiếc được sử dụng bởi Không quân Hoàng gia AnhKhông quân Cộng hòa Nam Phi.

Mục lục

[sửa] Thiết kế và phát triển

Chiếc Martin B-26C nhìn gần khi đang bay.

Năm 1939, Không lực Lục quân Hoa Kỳ phát hành bộ tiêu chuẩn số 39-640 về một kiểu máy bay ném bom tầm trung hai động cơ. Sáu tháng sau, công ty Glenn L. Martin trình bày một thiết kế cho Không lực. Peyton M. Magruder đã lãnh đạo nhóm thiết kế kiểu máy bay này sau khi Martin được nhận thầu. Thiết kế mang tên Martin Kiểu 179 được chấp thuận cho sản xuất ngay cả trước khi chiếc nguyên mẫu bay thực sự, do nhu cầu cấp thiết về một chiếc máy bay ném bom tầm trung theo sau sự căng thẳng của Thế Chiến II tại Châu Âu.

Khi chiếc máy bay đều tiên lăn bánh ra khỏi dây chuyền sản xuất vào tháng 11 năm 1940, Martin tiến hành các thử nghiệm và kết quả rất hứa hẹn. Chiếc máy bay B-26 đầu tiên do phi công thử nghiệm của Martin là William K. "Ken" Ebel lái đã cất cánh lần đầu tiên ngày 25 tháng 11 năm 1940, và là một chiếc nguyên mẫu rất hiệu quả. Không lâu sau đó, nó được chuyển cho Không lực để được thử nghiệm trong hoạt động. Chiếc máy bay này đã chuyển từ những tờ giấy thiết kế sang kiểu hoạt động trong vòng chưa đầy hai năm.

Trong khi B-26 là chiếc máy bay nhanh với tính năng bay tốt hơn chiếc B-25 Mitchell cùng thời, diện tích cánh tương đối nhỏ hơn và áp lực cánh lớn hơn (lớn nhất trong mọi máy bay sử dụng lúc đó) khiến cho nó có tốc độ hạ cánh cao khoảng 225 km/h (140 mph) và tốc độ chòng chành biểu kiến là 210 km/h (130 mph). Động cơ R-2800 khá tin cậy, nhưng cơ chế vận hành điều khiển bằng điện bước góc cánh quạt đòi hỏi phải bảo trì cho hoàn hảo và thường bị hỏng. Khi bị hỏng cánh quạt ở vị trí ngang khiến mất hoàn toàn sức kéo động cơ. Do kiểu dáng thân tròn trịa, động cơ của chiếc B-26 được đặt xa khỏi thân, nên việc mất lực kéo động cơ một bên sẽ gây hậu quả lộn vòng mạnh lật ngữa bụng máy bay. Điều này dẫn đến một số lượng lớn các tai nạn trong lúc cất cánh, nên chiếc B-26 còn bị các phi công lái nó đặt cho tên lóng là "Widowmaker" (kẻ tạo ra góa phụ). Các tên lóng đầy màu sắc khác bao gồm "Martin Murderer" (tên sát nhân Martin), "The Flying Coffin" (Quan tài bay), "B-Dash-Crash" (B-rơi), "The Flying Prostitute", và "The Baltimore Whore" (vì công ty Martin đóng trụ sở tại Baltimore)[3].

Những tai nạn sau đó đã dẫn đến phải ngưng sản xuất. Trong thời gian này một ủy ban điều tra được chỉ định để xem xét các vấn đề do Harry Truman (lúc đó là một nghị sĩ) dẫn đầu. Khi Truman và các thành viên khác trong ủy ban đi đến sân bay Avon Park, Florida, họ được "chào đón" bằng hai chiếc Marauder bị rơi còn đang bốc khói. Quả thật, các tai nạn khi huấn luyện phi công tại Căn cứ Không quân MacDill - cho đến 15 tai nạn trong vòng 31 ngày - thường xuyên đến mức dẫn đến một câu nói vui hơi phóng đại: "Một mỗi ngày ở Tampa Bay."

Chiếc máy bay sau khi được sửa đổi (tên gọi B-26B) có sải cánh được kéo dài thêm 1,8 m (6 ft) và các sửa đổi khác, trong đó có một số làm giảm tốc độ máy bay. Phiên bản mới được làm giảm tốc độ hạ cánh và tốc độ chòng chành. Độ an toàn của chiếc B-26B là một sự cải tiến rất tốt: nó có tỉ lệ tiêu hao thấp nhất trong mọi máy bay sử dụng trong chiến tranh. Tuy nhiên, nó vẫn tiếp tục là một máy bay khó điều khiển và không được các đội bay ưa chuộng trong suốt vòng đời của nó.

[sửa] Lịch sử hoạt động

Một phi vụ các máy bay B-26 Marauder đang ném bom.

Trong Thế Chiến II, các phi đội B-26 bắt đầu thực hiện các phi vụ tại Mặt trận Nam Thái Bình Dương từ đầu năm 1942, nhưng đa số những chiếc máy bay được chuyển giao đến Anh QuốcMặt trận Địa Trung Hải. Liên đội Ném bom 22 Red Raiders thuộc Không lực 5, nguyên được đặt căn cứ tại phía Bắc Australia nhằm tránh cho máy bay khỏi bị các máy bay tiêm kích Nhật Bản tấn công, nhưng thường xuất phát những chuyến bay của chúng từ Port Moresby, New Guinea. Ngày 9 tháng 6 năm 1942, Thiếu tá Lyndon B. Johnson bay một phi vụ ném bom đến Lae, New Guinea. Chiếc của B-26 Johnson bị trục trặc động cơ, và ông buộc phải quay trở về căn cứ. [4]

Giống như chiếc B-25, chiếc B-26 được thiết kế để ném bom từ độ cao trung bình, nhưng trong chiến tranh được yêu cầu tấn công ở độ cao chỉ bên trên ngọn cây, và những phiên bản B-26 sau này còn được trang bị các súng máy gắn bên cạnh bắn ra phía trước để càn quét các mục tiêu trên mặt đất. Việc ném bom tầm thấp bãi biển Utah do Marauder thực hiện trong Trận tấn công Normandy góp phần làm giảm nhẹ thương vong của lực lượng Mỹ tham gia tấn công.

B-26 được rút ra khỏi hoạt động trong Không lực Mỹ trước khi kết thúc chiến tranh. Phi vụ cuối cùng của nó thực hiện vào tháng 5 năm 1945.

[sửa] Các phiên bản

[sửa] Các nước sử dụng

Flag of Úc Úc
Flag of Pháp Pháp
Nam Phi
Anh
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ

[sửa] Đặc điểm kỹ thuật (B-26G)

Martin B-26G Marauder tại Bảo tàng Quốc gia Không quân Hoa Kỳ.

Tham khảo: Quest for Performance[5] và Jane's Fighting Aircraft of World War II[6]

[sửa] Đặc tính chung

[sửa] Đặc tính bay

[sửa] Vũ khí

[sửa] Tham khảo

  1. ^ Mendenhall, Charles. Deadly Duo. North Branch, Minnesota: Specialty Press Publishers & Wholesalers, 1981. ISBN 0-933424-22-1. Note: The 5.288 serial numbers published in this book effectively refutes the lesser count of the National Air & Space Museum.
  2. ^ B-26A
  3. ^ Higham 1975
  4. ^ American Warriors of Five Presidents
  5. ^ Loftin, L.K. Jr. Quest for performance: The evolution of modern aircraft. NASA SP-468. [1] Access date: 22 April 2006.
  6. ^ Jane, Fred T. “The Martin Model 179 Marauder.” Jane’s Fighting Aircraft of World War II. London: Studio, 1946. ISBN 1-85170-493-0. p. 245-246.

[sửa] Liên kết ngoài

Máy bay ném bom B-26B của Không lực Hoa Kỳ đang bay.

[sửa] Bộ sưu tầm hình ảnh

[sửa] Nội dung liên quan

[sửa] Máy bay liên quan

[sửa] Máy bay tương tự

[sửa] Trình tự thiết kế

B-23 - B-24 - B-25 - B-26XB-27 - XB-28 - B-29

[sửa] Danh sách liên quan

B-26 Marauder - theo chủ đề

B-26 Marauder - Dự án liên quan

© 2008 Netencyclo - Netencyclo Trang Chính - Chính sách về sự riêng tư - Lời phủ nhận - Program Policies
Netencyclo, the Wikipedia mirror : the biggest multilingual free-content encyclopedia on the Internet. Sửa đổi lần cuối lúc 00:11, ngày 14 tháng 5 năm 2007. Tất cả nội dung được phép sử dụng theo Giấy phép Tài liệu Tự do GNU (xem Quyền tác giả để biết thêm chi tiết). All Wikipedia content is licensed under the GNU Free Documentation License (see details). Content on this web site is provided for informational purposes only. We accept no responsibility for any loss, injury or inconvenience sustained by any person resulting from information published on this site. We encourage you to verify any critical information with the relevant authorities.