| Súng máy, tốc độ cao, 7,62mm, M134 | |
|---|---|
The M134 - Gatling gun |
|
| Loại | Súng máy Gatling |
| Nơi sản xuất | |
| Lịch sử | |
| Sử dụng | Xem Lịch sử |
| Quân đội | Xem Ứng dụng |
| Sử dụng trong chiến tranh | Chiến tranh Việt Nam |
| Lịch sử sản xuất | |
| Người thiết kế | General Electric |
| Thời gian thiết kế | lần 1: 1862 (sơ khai) lần 2: 1946 (M134 hoàn thiện với động cơ điện). |
| Hãng sản xuất | General Electric, Dillon Aero INC, DeGroat Tactical Armaments, Garwood Industries |
| Giá thành | $4.900[1] |
| Sản xuất | Xem Lịch sử |
| Số lượng | ? |
| Dạng | Xem trong bài |
| Đặc điểm | |
| Trọng lượng | 13,5 kg |
| Dài | 0,8 m |
| Độ dài nòng | 55,88 cm |
| Tổ lái | cá nhân |
|
|
|
| Loại đạn | 7,62x51mm NATO |
| Cỡ đạn | 7,62x51mm |
| Lên cò | Động cơ điện quay |
| Tốc độ bắn | 6000 vòng/phút |
| Vận tốc đạn | 1050 m/s |
| Tầm bắn hiệu quả | 20 m - 1000 m |
| Tầm bắn tối đa | 1500 m |
| Hệ thống tiếp đạn | Xem phần trong bài. |
| Ống ngắm | Dependant on installation; no fixed sights ; Thước ngắm |
M134 là loại súng máy cao cấp (siêu súng máy) nhiều nòng, có cấu tạo đặc biệt so với các loại súng máy nói riêng và súng nói chung. M134 còn có tên là Minigun hay Gatling Gun, có một loại anh em nữa là Gatling Canon (chuyên dùng gắn trên các thiết bị chiến đấu hạng nặng, không chỉ có thể bắn hạ bộ binh mà còn có thể tiêu diệt được xe tăng, chiến hạm, trực thăng, phá hủy nhà cửa, công trình máy móc).
Mục lục |
Tiền thân của loại súng này là một loại "súng máy" thường được sử dụng vào năm 1862 trong những trận chiến cao bồi, Nội chiến Hoa Kỳ khi đó nó chỉ được quay tay thay vì sử dụng một động cơ như hiện nay. Richard Jordan Gatling được cấp bằng sáng chế cho loại súng này.
Súng Gatling được sử dụng khá phổ biến nhưng rồi nó cũng nhanh chóng bộc lộ những nhược điểm: cồng kềnh, nặng nề, độ chính xác bắn kém, thao tác phiền phức và nhất là tốc độ bắn không cao do phụ thuộc vào sức quay của xạ thủ, thường chỉ khoảng 200-300 phát/phút[2]. Gatling cũng đã tìm cách gắn động cơ điện cho súng thay cho sức người, nhưng điều kiện kỹ thuật bấy giờ không cho phép khắc phục triệt để những nhược điểm của súng. Người ta tìm tới những sơ đồ nguyên lý mới phù hợp hơn cho súng tự động. Súng Gatling dần dần đi vào quên lãng.[2]
Cuối Thế chiến thứ hai, với sự phát triển của động cơ phản lực, máy bay đã đạt được tốc độ cao chưa từng thấy, việc bắn trúng các mục tiêu trở nên vô cùng khó khăn. Lúc này, quân đội Mỹ muốn có một thứ vũ khí có nhịp bắn cao nhưng phải đáng tin cậy. Để trả lời cho bài toán này, công ty General Electric (GE) của Mỹ đã phục hồi lại ý tưởng về súng nhiều nòng của Richard Jordan Gatling. Súng nòng quay Gatling đòi hỏi một nguồn ngoại lực để quay các nòng súng liên tục. Thế hệ động cơ phản lực máy bay mới hứa hẹn cung cấp đủ điện năng để vận hành súng và đảm bảo độ tin cậy cho một vũ khí hoạt động bằng khí trích. Tuy nhịp bắn mỗi nòng thấp hơn súng một nòng xoay nhưng tổng nhịp bắn của súng nhiều nòng lại cao hơn.
Năm 1946, quân đội Mỹ đưa ra một hợp đồng với GE cho "dự án Hỏa thần", loại súng 6 nòng có thể bắn 6000 trái đạn 20 mm trong 1 phút[2]. Mẫu thử nghiệm T-171 đã được bắn thử vào năm 1949.
Pháo Hỏa thần (tiền thân của M134) gặp vấn đề với đai nối đạn, thường bị nghiêng và bị dập khi bắn. Hệ thống nạp đạn không có đai nối được phát triển.
Thập niên năm 1960, Mỹ đưa M134 vào Chiến tranh Việt Nam để trợ lực cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa[3]. M134 bố rắp quân Việt Cộng ẩn nắp trong các khu rừng và tiêu diệt nhiều quân địch. Về sau súng còn được đưa lên máy bay vận tải C-47 cùng với một số loại vũ khí khác tạo thành một loại "tàu chiến bay" có tên là Hỏa long AC-47 (Puff the Magic Dragon), hay còn có tên khác là Snoopy (con ma) - chuyên yểm trợ hoả lực cho bộ binh và sục sạo chống du kích. Với tốc độ bắn khủng khiếp, loại súng này mỗi khi phát hỏa là tạo thành một "núi lửa" nhỏ đúng như tên gọi (vulcan).
Từ năm 1964 tới năm 1969 máy bay AC-47 đã tiến hành thành công 3926 phi vụ yểm trợ trên chiến trường Việt Nam, bắn 97 triệu viên đạn, diệt 5300 quân đối phương. Tuy nhiên, như nhiều vũ khí tân kỳ khác, AC-47 cũng không thoát khỏi sự đánh trả của quân giải phóng, 15 trên tổng số 53 chiếc đã bị hạ trong thời gian từ tháng 11 năm 1965 đến tháng 9 năm 1969 [4].
M134 có cấu tạo phức tạp, bên trong có gắn một động cơ chạy điện có tác dụng làm xoay nòng súng đồng thời đẩy đạn lên nòng, đập kíp nổ. Cấu tạo súng Gatling gồm cụm nòng có nhiều nòng ghép với nhau như bó đũa, ở giữa có một trục quay, phía sau cụm nòng là cụm khoá nòng có số khoá nòng tương ứng với số nòng, súng cũng có cơ cấu nạp đạn, cơ cấu phát hoả và cơ cấu truyền lực để tạo chuyển động cho súng. Cụm nòng và cụm khoá nòng có thể quay tương đối với nhau. Nòng súng cũng được cấu tạo đặc biệt, gồm 6 ống thép dài 558.8 li[5], được nối với một mâm cặp chuyển động nhờ hệ thống truyền động nối với động cơ. Nhờ có động cơ điện quay, M134 có tốc độ bắn cực kỳ cao, khoảng 6000 viên đạn trong 1 phút. M134 sử dụng loại đạn NATO tiêu chuẩn dài 51 mm.[5]
Khi hoạt động, cụm nòng quay quanh trục, khi nòng thứ nhất tới vị trí nạp đạn, một viên đạn sẽ được đưa vào nòng, cụm nòng tiếp tục quay, đưa nòng thứ nhất tới vị trí đóng khoá nòng, sau đó tới vị trí phát hoả để thực hiện phát bắn, tới vị trí mở khoá để hất vỏ đạn ra ngoài... như vậy, cứ hết một vòng quay thì nòng súng bắn được một viên đạn, tốc độ vòng quay càng lớn thì tốc độ bắn càng lớn. Mặt khác, cụm nòng gồm có nhiều nòng nên tốc độ bắn tỷ lệ với số nòng. Trong khi nòng thứ nhất đang bắn thì nòng thứ hai đóng khoá, nòng thứ ba nạp đạn, nòng thứ tư hất vỏ đạn... các nòng súng lần lượt được phát hoả một cách tuần hoàn. Giả sử mỗi giây quay được một vòng (60 vòng/phút) và súng có 6 nòng thì tốc độ bắn sẽ là 360 phát/phút. Để thực hiện bắn tự động với tốc độ lớn các cơ cấu của súng như khoá nòng, tiếp đạn, phát hoả... được liên kết với nhau thông qua các khâu truyền chuyển động đảm bảo sự làm việc liên tục, nhịp nhàng, đồng bộ.
Súng Gatling là dùng năng lượng của động cơ điện gắn ngoài, ngoài động cơ chính cho súng còn có thể có thêm một vài động cơ phụ để tải băng đạn[2]. Súng có thể hoạt động liên tục không gián đoạn vì nếu chẳng may có một viên đạn lép, một nòng không bắn được thì các nòng súng khác vẫn bắn bình thường và theo chu kỳ quay của súng, viên đạn lép sẽ được hất ra ngoài. Đây là lợi điểm rất quan trọng vì đối với các súng tự động một nòng thông thường, khi gặp viên đạn lép súng sẽ ngừng bắn và xạ thủ sẽ phải thao tác lên đạn lại. Điều này không những làm lỡ thời cơ chiến đấu mà không dễ thực hiện vì các loại súng trên các phương tiện chiến đấu thường đặt cách xa xạ thủ. [6]
Vỏ bọc của súng được làm bằng thép, đôi khi được chế tạo bằng titan để tăng độ bền và giảm sức nặng. Nó là phần cố định, dùng để lắp ráp các phụ kiện khác vào và giữ nhiệm vụ bảo vệ các chi tiết khỏi sự ảnh hưởng của các tác nhân oxi hóa. Khối lượng của nó tùy thuộc vào chất liệu, đối với sắt là 1.85 kg, nhưng nếu thay bằng titan sẽ giảm đi 0.9 kg, tức là chỉ còn 0.98 kg. [5]
Nguồn điện dùng cho súng bộ binh có dạng như acquy, còn loại dùng cho loại gắn trên máy bay và tàu chiến sử dụng ngay nguồn điện trên thiết bị.
Stator, từ tiếng Anh (gốc từ stationary có nghĩa là "đứng yên"), chỉ phần đứng yên, phần đứng, phần không chuyển động của máy. Stator của động cơ có một cặp nam châm vĩnh cửu, hay nam châm điện.
Nếu trục của một động cơ điện một chiều được kéo bằng một lực ngoài, động cơ sẽ hoạt động như một máy phát điện một chiều, và tạo ra một sức điện động cảm ứng (electromotive force, EMF). Khi vận hành bình thường, rotor khi quay sẽ phát ra một điện áp gọi là sức phản điện động (counter-EMF, CEMF) hoặc sức điện động đối kháng, vì nó đối kháng lại điện áp bên ngoài đặt vào động cơ. Sức điện động này tương tự như sức điện động phát ra khi động cơ được sử dụng như một máy phát điện (như lúc ta nối một điện trở tải vào đầu ra của động cơ, và kéo trục động cơ bằng một ngẫu lực bên ngoài). Như vậy điện áp đặt trên động cơ bao gồm 2 thành phần: sức phản điện động, và điện áp giáng tạo ra do điện trở nội của các cuộn dây phần ứng.
Rotor, từ tiếng Anh (gốc từ rotate có nghĩa là "quay"), chỉ phần chuyển động, phần động, phần quay của máy như trong động cơ điện. Rotor có các cuộn dây quấn và được nối với nguồn điện một chiều, một phần quan trọng khác của động cơ điện một chiều là bộ phận chỉnh lưu, nó có nhiệm vụ là đổi chiều dòng điện trong khi chuyển động quay của rotor là liên tục. Thông thường bộ phận này gồm có một bộ cổ góp và một bộ chổi than tiếp xúc với cổ góp.
Nòng súng gồm sáu ống thép dài ghép lại với nhau thành vòng tròn trông như kiểu hộp đạn của súng lục. Nòng súng được cố định bởi các mâm kim loại liền với nhau (gồm 3 đĩa nhỏ và 1 mâm có một trục giữa nối chúng lại), các mâm này có 6 lỗ tròn đường kính 8 li bố trí đối xứng đều để xỏ xuyên các nòng súng qua.
Sau đây là thông số kỹ thuật của một nòng súng.
M134 sử dụng loại đạn 7.62×51 mm tiêu chuẩn NATO được nối thành băng đạn dài có ít nhất 10000 viên đạn được xếp gọn gàn trong một chiếc hộp gọi là Hộp đạn. [7]
Hộp đạn là hộp chiếc hộp có kích thước 200x400x600 mm[7] chế tạo bằng nhựa tổng hợp, bên trong có các khớp để dây đạn (băng đạn) chạy ra dễ dàng, động cơ vừa quay nòng súng thì cũng vừa kéo băng đạn từ hộp đạn vào bệ khóa nòng.
Hộp đạn có thắt dây như kiểu ba lô, xạ thủ có thể đeo nó trên lưng sẽ rất thuận lợi trong việc hành quân hay/và chiến đấu.
Các thông số kỹ thuật viên đạn chuẩn NATO súng M134 sử dụng:
Vì súng bắn ra liên tục tức là động cơ phải xoay liên tục, kèm theo việc kéo nòng súng quay và đập kiếp nổ nên động cơ phát nhiệt liên tục. Lựợng đạn bắn ra trên 3000 viên/phút[8] dẫn đến lựợng nhiệt sinh ra do thuốc nổ lớn, có khả năng làm biến dạng nòng súng nếu súng bắn ra liên tục. Những điều trên đòi hỏi súng phải trang bị thêm một hệ thống làm mát.
Hệ thống làm mát có nhiệm vụ giữ cho nhiệt độ của các chi tiết không vượt quá giới hạn cho phép.
Có hai loại: bằng nước và bằng không khí. Loại súng dùng cho hải quân và không quân được làm mát từ nước mát để sẵn trên tàu và máy bay. Cơ cấu làm mát hoạt động theo nguyên lý tuần hoàn thẩm thấu. Loại M134 cầm tay được làm bằng tự nhiên bằng không khí bên ngoài hoặc đôi khí gắn thêm cánh quạt để tăng khả năng làm mát.
Thước ngắm và ống ngắm được trang bị trên M134 giúp cho việc xác định mục tiêu được chính xác. Chúng hỗ trợ rất tích cực cho xạ thủ, nhất là trên trực thăng, khi mà họ luôn chuyển động với tốc độ cực nhanh và khoảng cách so cới mục tiêu là lớn khiến cho việc xác định mục tiêu theo cách thông thường bị hạn chế và thiếu chính xác.
M134 không được sử dụng phổ biến trong bộ binh nhưng thường thì mỗi trung đội có một lính M134 hoặc binh chủng súng máy tương tự. Ngay từ khi mới xuất hiện, Quân đội Mỹ đã khai thác cách sử dụng súng trên xe bộ binh.
Các lực lượng bộ binh sử dụng M134:
M134 sử dụng nhiều trong không quân và phòng không, nhất là đối với các đội trực thăng, đều có 1 đến 2 tay súng. Ngoài ra M134 còn được trang bị cho hải quân, các loại súng Gatling Canon gắn trên boong tàu, đuôi tàu và mũi tàu chiến, được người điều khiển hoặc lập trình tự động, tại mỗi khẩu súng có lắp hệ thống cảm ứng nhiệt và/hoặc hồng ngoại giúp nhận biết và tấn công kẻ địch mà không cần có sự điều khiển trực tiếp từ con người. Canô cơ động Mỹ trang bị M134 để đánh diệt địch quân trên tàu và lính thủy đánh bộ.[5]
Sư Đoàn Không quân số 4, số 5 của Mỹ chiến đấu tại chiến trường Việt Nam, được mệnh danh là Rồng Thiêng và Spooky (Con ma) có chiến thuật chiến đấu như sau: Bắt đầu đợt tấn công bằng một quả pháo sáng để chiếu sáng mục tiêu, sau đó lượn vòng, thường là theo cặp rồi nã hàng loạt đạn vào đối phương, tạo nên những ngọn lửa bốc lên như Rồng Thiêng phun lửa, buộc những lính Bắc Việt kiên cường nhất cũng phải thối lui.[11]
| Không quân | Hải quân |
|---|---|
| UH-60
MH-47 |
MK-5 Special Operations Boats
Rigid Hulled Inflatable Boats |
M134 nặng nên rất khó sử dụng khi cận chiến, bù lại nó lại có tốc độ bắn tuyệt hảo, tương đối êm vì sử dụng động cơ để lên đạn.
Người sử dụng có thể đeo hộp đạn trên lưng như một chiếc ba lô, đồng thời cầm súng trên tay nối sẵn đạn. Khi chiến đấu chỉ cần bấm nút để động cơ hoạt động (xạ thủ phải chắc rằng nguồn điện phải luôn để mở).
Một điểm đáng lưu ý là M314 và các loài súng Gatling cần khoảng thời gian 5s để khởi đầu, trong những giây đầu khi khởi động, súng chỉ bắn được 50-70 viên/phút.
Súng M134 giữ một chỗ như là hình tượng trong văn hóa đại chúng. Đầu tiên, sản phẩm của nó được dùng như vũ khí cá nhân trong những bộ phim Predator (quái vật ăn thịt) - 1987 và Terminator 2: Judgment Day (Kẻ hủy diệt 2: Ngày phán xét) - 1991. M134 đã được nhắc đến trong nhiều thể loại trải qua gần như toàn bộ các phương tiện truyền thông, từ những sách và phim tới truyện tranh và những tiểu thuyết đến video và những trò chơi máy tính. Tính rõ ràng của M134 trong phương tiện truyền thông như phim The Matrix (Ma trận) - 1999 được đẩy mạnh vị trí hình tượng của nó, cũng như một sự cuốn hút với vũ khí trong số những người hâm mộ. Trên thực tế thật không thể nào cầm và sử dụng như một vũ khí riêng lẻ và những lực không có vũ trang làm điều này trên thực tế cho nhiều lý do, nhưng khả năng này đã được miêu tả trong một sự đa dạng rộng của phương tiện truyền thông.
Thuật ngữ chính "Minigun" đã vào kho từ vựng như một thuật ngữ dùng để mô tả bất kỳ súng máy nào với một sự hệ thống nòng quay, bất chấp có bất kỳ quan hệ nào tới sản phẩm General Electric nguyên bản. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật thuật ngữ " Minigun " chỉ áp dụng cho các sản phẩm của tập đoàn General Electric , với thậm chí những hệ thống khẩu súng trường khác được tham chiếu tới khi súng máy nòng xoay. Ví dụ, trong Jane's Weapon Systems, 1986-1987, Súng máy 4 nòng trên Mil Mi-24 (Không tên trong thời gian sản xuất, vũ khí thật ra là súng máy Yak-B 12.7mm) được xem là như một "Gatling-type gun, nhiều nòng" trong khi vũ khí General Electric được tham chiếu tới như một Minigun [12]. Thuật ngữ Chain gun đã thường trở nên được nhầm lẫn với Miniguns và những vũ khí nòng xoay khác trong những trò chơi video và phương tiện truyền thông khác.
| Trang web Vietnam Defence sử dụng các nguồn tham khảo này để viết về M134 Gatling gun. |
|---|
| Small arms of the world - The Telegraph Press, Harriburg, Pa. USA 1969. |
| Julia Keller. 2008. Mr Gatling's Terrible Marvel: The Gun That Changed Everything and the Misunderstood Genius Who Invented It. Viking. ISBN-13: 978-0670018949, ISBN 978-670018949. |
| en wiki Richard Jordan Gatling |