| Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. Nếu không, những câu hay đoạn văn không có chú giải nguồn gốc có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào. |
| Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia. Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác. |
Thạc sỹ quản trị kinh doanh (tiếng Anh: Master of Business Administration - MBA) là bằng thạc sỹ chuyên ngành quản trị kinh doanh, thu hút nhiều người ở một phạm vi rộng trong các ngành học có tính học thuật.
Học vị Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh có nguồn gốc từ Mỹ, nổi lên, nổi xuống khi đất nước đã được công nghiệp hóa và các công ty đang tìm kiếm những cách tiếp cận khoa học cho việc quản lý.
Trường kinh doanh đầu tiên ở Mỹ, Trường Wharton của Đại học Pennsylvania ra đời năm 1881, 62 năm sau khi trường ESCP-EAP trường kinh doanh đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1819 ở Paris. Trường Tuck school of Business, một phần của Cao đẳng Dartmounth, trường quản lý đầu tiên tại Mỹ. Thành lập năm 1900, đây là học viện đầu tiên cấp chứng chỉ cấp cao (thạc sỹ) cho ngành khoa học thương mại, tiền thân của chứng chỉ MBA ngày nay.
Thành lập năm 1898, trường kinh doanh Đại học Chicago, trường kinh doanh lâu đời thứ hai tại Mỹ và là trường kinh doanh đầu tiên đưa ra chương trình Lãnh đạo MBA (Executive MBA - EMBA), cở sở của đa số các trường kinh doanh ngày nay. Trường Quản lý toàn cầu Thunderbird được thành lập năm 1946, sau Thế chiến thứ hai bởi Lieutenant General Barton Kyle Yount (Tướng chỉ huy Bộ tư lệnh Không quân Hoa Kì), là trường kinh tế đầu tiên và lâu đời nhất của Mỹ chỉ tập trung duy nhất vào lĩnh vực "Kinh doanh toàn cầu".
Khi mô hình MBA của Mỹ nổi lên đầu thế kỷ 20, người châu Âu đã phát triển các trường Kinh doanh như trường Webster của Trường cao đẳng Regent ở London và Trường kinh doanh Manchester; những trường khác như Trường Kinh doanh Cass, London, IMD, MBA-HSG, học viện Empresa, INSEAD, Cao đẳng Quản lý Henley, trưởng Quản lý Cranfield và Ashridge, ra đời nhằm huấn luyện kĩ năng Quản lý.
Năm 1950, chứng chỉ MBA đầu tiên được cấp ngoài Mỹ bởi Đại học Western Ontario ở Canada. Tiếp sau đó vào năm 1951 với chứng chỉ được cấp qua Đại Tây Dương bởi Đại học Pretoria ở Nam Phi. Năm 1964, đại học Dublin trở thành trường đại học Châu Âu đầu tiên đưa ra chương trình MBA, sau đó vào năm 1969 bởi trường quản lý HEC (Tiếng Pháp: the École des Hautes Études Commerciales) và học viện Etudes Politiques de Paris. Năm 1968, Học viện Quản lý châu Á được thành lập.
Chứng chỉ MBA được công nhận trên toàn thế giới và cả 6 lục địa đều có các trường đại học đưa ra chương trình học MBA.
Tại châu âu, Quy trình Bologna hiện nay đã đưa ra tiêu chuẩn chung của 3 cấp độ giáo dục cao hơn: Cử nhân (Barchelor) (3 năm), Thạc sĩ (Master) (5 năm) và Tiến sĩ (Doctorate) (8 năm).
Học viên có thể thu nhận được nhiều kinh nghiệm sau khi tốt nghiệp cử nhân tại bất kì học viên Châu Âu nào và sau đó hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sĩ tại bất kì học viện Châu Âu nào qua Hệ thống tích lũy và chuyển đổi Châu Âu (The European Credit Transfer and Accumulation System). Một bằng Thạc sĩ Quản lý châu Âu bởi thế tương đương với chứng chỉ MBA của Mỹ và còn có thêm những nội dung khoa học khác, ví dụ, một bằng Thạc sĩ quản lý Châu Âu yêu cầu phải viết và bảo vệ luận án.
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |