Netencyclo tiếng Việt, The wikipedia mirror - The biggest multilingual encyclopedia : Nhà Minh

- Nhà Minh -

Nhà Minh :

Nhà Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
大明
Đại Minh
Đế Quốc
[[Nhà Nguyên|]]
1368 – 1644 [[Nhà Đại Thuận|]]
 
[[Nhà Thanh|]]
Vị trí của Nhà Minh
Bản đồ nhà Minh năm 1580
Thủ đô Nam Kinh
(1368-1421)
Bắc Kinh
(1421-1644)
Tôn giáo Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Khổng, Tôn giáo người Trung Quốc
Chính thể Quân chủ
Hoàng đế
 - 1368-1398 Minh Thái Tổ
 - 1627-1644 Minh Tư Tông
Lịch sử
 - Thành lập ở Nam Kinh 23 tháng Giêng, 1368
 - Sụp đổ của Bắc Kinh 6 tháng6,1644
 - Kết thúc của nhà Nam Minh Tháng 4, 1662
Dân số
 - 1393 ước tính 72,700,000 
 - 1400 est. 65,000.000¹ 
 - 1600 est. 150,000.000¹ 
 - 1644 est. 100,000,000 
Chính phủ còn sót lại của Nhà Minh còn tồn tại ở miền Nam Trung Quốc cho đến năm 1662,phần thouc65 về triều đại này được biết đến vớ tên Nhà Nam Minh.
¹ Những số liệu trên được đưa ra bởi tác giả C.J. Peers ở Late Imperial Chinese Armies: 1520-1840
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Nhà Hạ 2205–1767 TCN
Nhà Thương 1766–1122 TCN
Nhà Chu 1122–256 TCN
  Nhà Tây Chu
  Nhà Đông Chu
    Xuân Thu
    Chiến Quốc
ĐẾ QUỐC
Nhà Tần 221 TCN –206 TCN
Nhà Hán 206 TCN–220 CN
  Nhà Tây Hán
  Nhà Tân
  Nhà Đông Hán
Tam Quốc 220–280
  Ngụy, Thục & Ngô
Nhà Tấn 265–420
  Nhà Tây Tấn
  Nhà Đông Tấn Ngũ Hồ thập lục quốc
304–439
Nam Bắc Triều 420–589
Nhà Tùy 581–619
Nhà Đường 618–907
  (Nhà Vũ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–960
Nhà Liêu 907–1125
Nhà Tống 960–1279
  Nhà Bắc Tống Nhà Tây Hạ
  Nhà Nam Tống Nhà Kim
Nhà Nguyên 1271–1368
Nhà Minh 1368–1644
Nhà Thanh 1644–1911
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa

1949–ngày nay

Trung Hoa Dân Quốc
(tại Đài Loan)
1945-ngày nay

Triều đại Trung Quốc
Lịch sử quân sự Trung Quốc
Hộp này: xem  thảo luận  sửa

Nhà Minh (Chữ Hán: 明朝; Hán-Việt: Minh Triều) là tên của triều đại cai trị Trung Quốc từ 1368 đến 1644. Đây là triều đại cuối cùng ở Trung Quốc do tộc Hán lãnh đạo, thay thế nhà Nguyên của người Mông Cổ trước khi rơi vào tay nhà Thanh của người Mãn Châu. Nhà Minh cai trị toàn bộ Đại Minh Quốc (大明國 Dà Míng Guó) hay nước Trung Quốc sau này. Dù kinh đô nhà Minh, Bắc Kinh, thất thủ năm 1644, con cháu họ vẫn kế tục ngôi vua và quyền lực (hiện thường được gọi chung là Nhà Nam Minh) cho tới tận năm 1662.

Dưới thời nhà Minh, một quân đội với lực lượng thuỷ quân đông đảo được xây dựng, gồm cả những chiếc thuyền bốn cột buồm với lượng giãn nước 1.500 tấn và một đội quân thường trực lên tới một triệu người. Hơn 100.000 tấn sắt được sản xuất ra hàng năm tại Bắc Trung Quốc (khoảng 1 kg trên đầu người[cần dẫn nguồn]), nhiều cuốn sách được in theo kỹ thuật xếp chữ rời. Đã có những tư tưởng phán kháng mạnh mẽ trong dân chúng chống lại sự cai trị của bộ tộc "phi Hán" trong thời nhà Thanh sau đó, và sự tái lập nhà Minh luôn được kêu gọi thực hiện cho tới tận thời cận đại.


Mục lục

[sửa] Cai trị

[sửa] Sự thành lập nhà nước Minh

[sửa] Tuyên bố Thiên Mệnh

[sửa] Thời kỳ cường thịnh của triều Minh

Khi nhà Minh mới thành lập, do hậu quả của chính sách cai trị của triều Nguyên và gần 20 năm chiến tranh, nền kinh tế Trung Quốc bị phá hoại nghiêm trọng, đời sống nhân dân rất khốn khổ. Trước tình hình ấy, mặc dầu từ lâu không còn là đại biểu của giai cấp nông dân nữa, nhưng Minh Thái tổ (Chu Nguyên Chương) vẫn thông cảm được các nổi khổ của nhân dân đồng thời cũng hiểu rỏ sức mạnh của quần chúng. Vì vậy ông nói: "Thiên hạ mới định, tài lực trăm họ còn khó khăn, giống như con chim mới tập bay, không thể nhổ lông nó, như cây mới trồng không thể lay gốc nó mà phải nâng niu nuôi dưỡng...". Quán triệt tư tưởng đó, Minh Thái tổ đã thi hành những chính sách sau đây:

[sửa] Các Hoàng đế Thái Tổ và Thành Tổ

[sửa] Khám phá và cô lập

Đây là mảnh duy nhất còn lại trên thế giới của một đồ vật sơn mài lớn được chế tạo tại "Xưởng sơn mài Hoàng gia" tại Bắc Kinh ở đầu thời nhà Minh. Với trang trí rồngphượng, nó được chế tạo để sử dụng trong hoàng cung. Có lẽ ở khoảng thời Minh Tuyên Tông (1426-1435). Hiện được trưng bày tại Bảo tàng Victoria và AlbertLuân Đôn.

( Xem bản lớn )

Người Trung Quốc đã có được ảnh hưởng trên toàn vùng Turkestan. Các quốc gia châu Á ven biển đã gửi các phái bộ mang theo đồ nộp cống tới Hoàng đế Trung Quốc. Bên trong nước, Đại Vận Hà được mở rộng ra đến giới hạn xa nhất chứng minh tác dụng kích thích của nó đối với thương mại. Tuy nhiên, cuộc thám hiểm đáng ngạc nhiên nhất thời kỳ này là chuyến ra khơi trên 317 chiếc tàu thủy của Trịnh Hoà, đi ngang qua Ấn Độ Dương và các quần đảo tại Đông Nam Á. Là một hoạn quan Hồi giáo đầy tham vọng, một nhân vật tài trí không xuất thân từ tầng lớp trí thức Khổng giáo, Trịnh Hòa đã chỉ huy bảy chuyến thám hiểm từ năm 1405 tới 1433, sáu chuyến trong số đó diễn ra ở thời Vĩnh Lạc. Có lẽ ông đã đi tới tận Mũi Hảo Vọng và có thể cả châu Mỹ theo giả thuyết 1421. Chuyến đi năm 1403 của Trịnh Hòa với một đội ngũ tàu biển là một thắng lợi trong việc tìm kiếm những con đường trên biển cho mục đích thúc đẩy thương mại, chứ không phải để kiếm lợi nhuận. Những lợi ích của các con đường thương mại và lợi ích của những con đường tôn giáo cũng gắn kết với nhau. Cả hai đều mang lại cảm giác bất an cho tầng lớp trí thức Khổng giáo mới: Các con đường tôn giáo thúc đẩy thương mại và khám phá và những lợi ích do chúng mang lại sẽ khiến nguồn vốn của nhà nước được đầu tư vào đó chứ không phải vào những nỗ lực chống lại giới tăng lữ của giới trí thức nho giáo. Chuyến thám hiểm đầu tiên năm 1405 gồm 317 chiếc thuyền và 28.000 người --thời ấy là hạm đội thám hiểm lớn nhất trên thế giới. Những chiếc tàu nhiều lớp boong của Trịnh Hòa chở tới 500 quân và cả hàng hóa xuất khẩu, đa số là hàng và đồ sứ, và chở về nước những đồ xa xỉ nước ngoài như gia vị và các loại gỗ nhiệt đới. Động cơ kinh tế của những chuyến thám hiểm vĩ đại này có thể chiếm phần quan trọng, và nhiều chiếc tàu có những cabin riêng lớn dành cho các thương gia. Nhưng mục đích tối cao có lẽ vẫn là chính trị; nhằm khám phá thêm các quốc gia khác và đưa họ vào danh sách chư hầu nộp cống cho Trung Quốc cũng như đánh dấu sự thống trị của Đế quốc Trung Hoa. Tính chất chính trị của những cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa cho thấy ảnh hưởng to lớn của tầng lớp quan lại cấp cao. Dù có sức mạnh to lớn và chưa từng có, nhưng những chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa không giống với những thám hiểm của Châu Âu diễn ra sau đó trong thế kỷ 15, chúng không được thực hiện với ý định mở rộng chủ quyền của Trung Quốc ra bên ngoài. Biểu thị sự cạnh tranh bên trong tầng lớp quan lại cao cấp, những cuộc thám hiểm đó cũng đã ngày càng trở thành những vấn đề tranh chấp chính trị. Trịnh Hòa được các hoạn quan cấp thấp trong triều ủng hộ nhưng lại bị phản đối mạnh mẽ từ phía các quan lại theo Khổng giáo. Sự phản kháng lớn tới mức trên thực tế họ đã tìm cách tịch thu bất kỳ một văn bản sử nào của triều đình có ghi chép về các chuyến viễn du đó. Và cũng phải công nhận rằng, những cuộc tấn công của người Mông Cổ diễn ra đã khiến cán cân nghiêng về phía các quan lại Khổng giáo.

Chậu hoa thời nhà Minh này là một ví dụ về [đồ gốm] men ngọc Long Tuyền (龙泉青瓷). Nó được trưng bày tại Viện Smithsonian ở Washington, D.C.

Tới cuối thế kỷ 15, các thần dân của đế quốc bị cấm chế tạo các con thuyền có thể đi biển hay rời khỏi đất nước. Một số nhà sử học cho rằng biện pháp này được đưa ra để chống lại cướp biển. Nhưng ở giai đoạn giữa thế kỷ 16, thương mại đã được tái khởi động lại khi bạc thay thế vị trí tiền giấy. Giá trị của bạc tăng lên nhanh chóng so với các loại hàng hóa khác trên toàn thế giới, và cả thương mại và lạm phát đều tăng lên khi Trung Quốc bắt đầu nhập khẩu bạc. Các nhà sử học ở thế kỷ 17 như John Fairbank IIIJoseph Levinson đã cho rằng sự phát triển thương mại này một lần nữa lại rơi vào tình trạng đình trệ, và rằng khoa học và triết học bị hạn chế trong những khuôn khổ truyền thống chặt chẽ ngăn chặn mọi nỗ lực phát kiến cái mời. Các nhà sử học tán thành giả thuyết này cho rằng trong thế kỷ 15, theo nghị định của triều đình các tàu đi biển loại lớn đã bị giải giới; việc chế tạo các tàu đi biển cũng bị ngăn cấm; công nghiệp sắt dần tàn lụi.

[sửa] Chinh phuc quân sự

Quan hệ nước ngoài của nhà Minh năm 1580

Sự khởi đầu của nhà Minh được đánh dấu bởi những chiến dịch quân sự khi họ tìm cách củng cố và mở rộng quyền lực. Trong những năm cầm quyền đầu tiên của mình, vị vua đầu tiên nhà Minh, Chu Nguyên Chương, đã đưa ra những chỉ dẫn như những huấn thị cho các thế hệ sau này. Chúng gồm những lời khuyên cho rằng các nước ở phương bắc là rất nguy hiểm và là một mối đe dọa đối với chính thể nhà Minh. Trái lại, ông cho rằng các nước phương nam không phải là một mối đe doạ, vì thế cũng không phải là một mục tiêu cần tấn công. Đúng vậy, dù tuân theo hay không tuân theo những chỉ dẫn này, chính các nước phương nam là mục tiêu xâm lấn và mở rộng của nhà Minh trong những thế kỷ tiếp sau. Sự dính líu tới các nước phương nam như Đại Việt, Miến Điện mà không mang lại lợi ích cụ thể nào rõ ràng đã làm nhà Minh suy yếu.

[sửa] Xây dựng Vạn lý trướng thành

Sau khi quân đội nhà Minh bị đánh bại tại trận Thổ Mộc và phải chịu đựng những cuộc cướp phá do người Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của vị hãn mới, Altan Khan (Yêm Đáp Hãn), tiến hành nhà Minh đã phải chấp nhận một chiến lược mới để đối phó với những kị sĩ phương bắc đó: một bức tường thành vĩ đại và không thể xâm nhập. Hầu như khoảng 100 năm trước (1368) nhà Minh đã bắt đầu xây dựng một pháo đài mới với kỹ thuật tiên tiến mà ngày nay chúng ta gọi là Vạn lý trường thành. Được xây dựng với một chi phí khổng lồ, bức tường chạy dọc theo các biên giới của đế chế Minh. Phải chấp nhận lùi bước tránh vùng đất thuộc quyền kiểm soát của người Ordos Mông Cổ, phía nam Hoàng Hà, bức thành chạy dọc theo biên giới phía bắc hiện nay của các tỉnh Sơn TâyThiểm Tây hiện nay. Chi phí cho việc xây dựng vượt quá rất nhiều so với các chiến dịch quân sự chống lại người Mông Cổ trong vòng 80 năm trước đó của nhà Mình và tiếp tục tăng lên tới tận khi hoàn thành (năm 1644).

[sửa] Triều đình nhà Minh và xã hội

[sửa] Chính trị

[sửa] Binh chế
Ming Dynasty (1368-1644) musketeers in drill formation.

Khi Minh triều thành lập, Chu Nguyên Chương đã xây dựng quân đội theo một hệ thống tổ chức quân sự được gọi là "Vệ Sở" (衛所, Wei-so) (tương tự như hệ thống "Phủ Binh" (Fu-ping) của nhà Đường). Theo đó, Cơ sở của quân đội được tổ chức thành các vệ, mỗi vệ có 5..600 người. Dưới vệ tổ chức thành các sở nhỏ hơn (Thiên hộ sở, Bách hộ sở). Các vệ thuộc quyền thống suất của Đô đốc phủ, nhưng quyền điều động lại thuộc Binh bộ. Theo Ming Shih Gao, ý đồ của người sáng lập nhà Minh là nhằm có được một quân đội mạnh mẽ trong khi vẫn tránh được những liên kết giữa các chỉ huy và quân lính.

[sửa] Hình pháp

Luật pháp ra đời ở thời Hồng Vũ được coi là một trong những thành tựu lớn nhất thời đại. Míng shih cho rằng ngay từ đầu năm 1364, triều đình đã bắt đầu soạn thảo các văn bản luật được gọi là Đại Minh Luật. Chu Nguyên Chương rất quan tâm tới dự án này và ông đã yêu cầu các vị quan phụ trách làm luật phải đưa ra được một bộ luật dễ hiểu và bao hàm toàn diện cuộc sống, không để lại những kẽ hở khiến các vị quan lại cấp dưới lợi dụng nhằm diễn giải sai ý nghĩa ngôn từ. Luật pháp triều Minh đã có bước tiến lớn so với nhà Đường trong cách đối xử với nô lệ. Theo luật nhà Đường, nô lệ hầu như bị coi ngang hàng với súc vật. Nếu họ bị một công dân tự do giết, luật pháp không hề trừng phạt kẻ giết người. Luật mới bảo vệ những người nô lệ cũng như các công dân tự do, một ý tưởng muốn quay lại với thời cai trị của vua Quang Vũ nhà Hán đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Luật pháp nhà Minh cũng nhấn mạnh trên các mối quan hệ gia đình. Đại Minh Luật dựa trên các ý tưởng Khổng giáo và các ý tưởng này luôn là một trong những nhân tố chính trong luật pháp Trung Quốc cho tới cuối thế kỷ XIX.

[sửa] Giáo dục và thi cử

[sửa] Canh nông và thuế

[sửa] Quan liêu

Để cho vương triều Đại Minh của họ Chu kế tục lâu dài, Minh Thái Tổ trước mắt tăng cường chế độ trung ương tập quyền. Năm Hồng Vũ thứ 9 (1376) bãi bỏ Hành trung thư tỉnh, thiết lập Bố chính sứ ty, Đề hình Án át sứ ty, Đô chỉ huy sứ ty phân ra để quản lý hành chính tư pháp, quân sự. Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380) hủy bỏ chức Trung thư tỉnh ở trung ương, bãi bỏ chế độ Tể tướng, phân quyền cho sáu bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Thiết lập Đô sát viện giám sát trăm quan, lập Cẩm y vệ là những cơ cấu đặc vụ có nhiệm vụ khống chế thần dân.

Nghệ thuật hội họa đời Minh miêu tả những phụ nữ- Khoảng năm 1580

Nhiều người cho rằng Chu Nguyên Chương muốn tập trung quyền lực tuyệt đối trong tay mình, bãi bỏ chức vụ Tể tướng và vì thế cũng triệt tiêu sự chống đối có thể đối với các vị hoàng đế bất tài. Tuy nhiên, vị trí Tể tướng bị bãi bỏ này lại được thay thế bởi một chức vụ mới, gọi là "Đại học sĩ". Ray Huang, Giáo sư Sate University cho rằng các Đại học sĩ, bên ngoài có vẻ không quyền hành gì, nhưng thực tế nắm nhiều ảnh hưởng phía sau ngai vàng.. Vì uy tín và sự tin cậy của dân chúng giành cho họ, các Đại học sĩ có thể đóng vai trò trung gian giữa hoàng đế và các quan lại, nhờ vậy làm cân bằng và ổn định các lực lượng trong triều đình.

Lệnh bài của Cẩm Y vệ

Ở thời Minh, các mạng lưới cảnh sát chìm phát triển rộng rãi trong quân đội. Vì quá khứ hèn mọn của Chu Nguyên Chương trước khi trở thành hoàng đế, ông rất căm ghét các quan lại tham nhũng và hiểu rõ các nguy cơ có thể dẫn tới các cuộc nổi loạn. Ông đã tạo ra Cẩm y vệ, để bảo vệ cẩn mật riêng cho mình và hoạt động như một đội cảnh sát chìm trong khắp đế chế. Dù có được rất ít thành công trong thời gian tồn tại, đội ngũ này nổi tiếng vì sự tàn bạo trong việc xử lý các vụ phạm tội hơn là một lực lượng cảnh sát thật sự. Trên thực tế, nhiều người dân bị họ bắt giữ là người lương thiện. Cẩm y vệ đã reo rắc nỗi sợ hãi trên khắp đất nước, nhưng quyền lực của họ đã bị giảm sút khi ảnh hưởng của các hoạn quan trong triều ngày càng tăng lên. Các hoạn quan đã tạo ra ba nhóm mật vụ phục vụ cho lợi ích của họ: Đông xưởng, Tây xưởngNội xưởng. Cả ba nhóm đều không kém Cẩm y vệ về mặt tàn bạo và có lẽ còn ở mức cao hơn, bởi vì họ chính thức là một công cụ của hoạn quan nhằm loại trừ các đối thủ chính trị chứ không còn mang một chức năng nào khác.

[sửa] Quân sự

[sửa] Ngoại giao

Bảy lần đi sứ và thám hiểm của của Trịnh Hoà.Chúng ta đã biết Chu Nguyên Chương quyết dẹp nạn Mông Cổ ở phương Bắc và mở mang bờ cỏi ở phương Nam, nhưng thực hiện chưa xong, Thành Tổ tiếp tục chính sách đó, có hùng khí hơn: Không như cha, khép cửa biên giới, không cho ngoại nhân vô, mà trái lại muốn vuợt biển, tới khắp các nước Đông Nam Á, Trung Á, khoa trương uy quyền của ông, bắt các nước đó phải thần phục Trung Quốc, cống hiến những vật lạ. Ông Ta rất cương quyết bất chấp khó khăn gian nguy, ngay từ năm 1405, hai năm sau khi lên ngôi, vừa tấn công Mông Cổ, vừa cho đóng một hạm đội mạnh nhất đương thời, giao cho một viên thái giám (hoạn quan) tên là Trịnh Hòa, chỉ huy để đi sứ Tây Dương, tức là Nam Dương và Ấn Độ ngày nay ( Có thể Trịnh Hòa còn được phái đi để dò xem Huệ Đế có trốn ra nước ngoài không vì không có bằng chứng gì chứng tỏ rằng ông đã chết. Hạm đội gồm 62 chiếc thuyền buồm lớn; mỗi chiếc dài 44 trượng, rộng 18 trượng, cjở 38.000 hải quân, riêng chiếc của viên chỉ huy chở 1.000 hải quân , mỗi trượng là 10 thước, mỗi thước là 20, 30cm). Trịnh Hòa là con một người Ả rập, theo đạo Hồi, chính ông ta cũng có tên Ả Rập là Hadji. Sinh trưởng ở Vân Nam, vóc cao lớn, sức mạnh phi thường, mặt mũi thanh tú, có tướng đi uyển chuyển như cọp, tiếng nói như sấm.

Chuyến đi đầu tiên xuất phát tháng 6 năm 1405 từ một hải cảng ở Tô Châu đem theo nhiều vàng lụa, ghé Phúc Kiên, đến nước ta, Chiêm Thành rồi tới Java (Oa Qua). Ông ta cho mời vua Palembang ở Java tới thuyền ông nói chuyện. Ông vua đó làm bộ nghe lời, dẩn tàu chiến tới và cuộc hải chiến xảy ra. Vua Palembang thua, bị bắt đưa về Trung Hoa. Tháng 9 năm 1407, Trịnh hòa về tới Bắc Kinh với nhiều chiến lợi phẩm.

Chưa kịp nghỉ ngơi thì Trịnh lại được lệnh đi chuyến thứ nhì (1407). Lần này ông tới Nam Việt. Xiêm, Java và Calcutta (Ấn độ). Khi trở về ông ghé đảo Tích Lan - Sử Từ Quốc - và nhân danh vua Minh, ông tặng một ngôi chùa Phật, nhiều vật bằng vàng, bạc, nhiều cây cờ thêu kim tuyến, rồi xây dựng một cái bia ghi lại việc đó. Bia đó này còn giữ trong viện Bảo Cổ Tích Lan. Tháng 2 năm 1409, ông trở về Trung Quốc.

Nghỉ ngơi 7 tháng rồi ông lại qua Tích Lan một lần nữa, lần này đoàn được tăng cường: 48 chiếc tàu . Vua Tịch Lan đưa một đạo quân gồm năm vạn quân đánh hạm đội Trung Hoa không còn quân bảo vệ, thủy quân Trung Hoa quay về tàu thì bị nghẽn. Trịnh hòa ra lịnh cho hải quân phải chiến đấu và cầm cự với bất kì giá nào, còn ông thì cầm đầu hai ngàn quân ở trên bờ, cả gan tiến thẳng về kinh đô Tích Lan Ông thành công mĩ mãn, vì quân Tích Lan bị tấn công bất ngờ, thua. Vua và hoàng tộc bị bắt. Đạo quân Tích Lan đương tấn công hạm đội Trung Hoa vội vàng trở về vây Trịnh Hòa, nhưng mặc dầu 1 người chống với 25 quân (theo Minh sử) Trịnh Hòa lại thắng nữa, trở về nước,thuyền nào cũng đầy nhóc tù binh.

Ông nghỉ ngơi ba năm, năm 1413 đi chcuyến thứ 4, tới Omuz ở Ba Tư, tiếc rằng ông không chép cho ta biết Ba Tư thời đó ra sao, mà lại chép rằng trên đường về, ông ghé Sumatra, giúp Hoàng hậu nước đó diệt được một cuộc phản loạn nhỏ.

Chuyến đi thứ 5, năm 1417, ông chở rất nhiều gấm vóc để tặng các vua bản xứ và được họ tặng lại vua Trung Hoa sư tử, báo, ngựa Omuz, đà điểu, lạc đà và vô số vật lạ khác. Chuyến này chỉ có tánh cách hòa hảo nhất. Hai năm sau ông về. Năm 1421 ông đi chuyến thứ 6, tiến xa hơn nữa, tới tận Madagascar ở gần bờ biển phía Đông Nam Phi. Ông chưa về thì Thành Tổ chết ( 1424).

Ông thích mạo hiểm, thích biển, nên năm 1430, đời Tuyên Tôn, lại đi chuyến nữa, cầm đầu 28.000 người, gồm sĩ quan, lính thủy thủ, thông ngôn, thư ký, y sĩ, kũ sư, thợ thủ công đủ nghề để các nước phương xa biết sức mạnh và văn minh Trung Quốc. Cuộc hành trình được tổ chức chu đáo, ba năm mới trở về. Ông thăm Ba Tư, rất tiếc phái đoàn cũng vẩn không chép gì nhiều về Ba Tư.

Chuyến đó là chuyến cuối cùng. Năm trăm năm sau khi ông mất, ông vẫn được dân tộc Trung Hoa và các nước ông dđã ghé ngưỡng mộ, người Java thờ ông như một vị thần. Không có nhà vượt biển nào mạo hiểm như ông. Khoảng năm sáu chục năm sau, người Bồ Đào Nhamới dùng thuyền buồm, đi vòng Hảo vọng giác ở cuối Châu Phi tới Ấn Độ Dương. Nghệ thuật hàng hải của Trung Hoa thời đó đứng đầu thế giới. Tàu của họ có tới bốn tầng lầu, các phòng trong tàu, nước đều vào không lọt (Watertight), nếu thuận gió thì đi được khoảng 10 cây số một giờ. Cũng như người Ả Rập, họ theo gió mùa mà đi.

Sau những cuộc thám hiểm bằng đường biển đó không tiếp tục nữa, một phần vì tốn tiền quá, những vật lạ chở về đầu có thể mua được của thương nhân Ả Rập ở Quảng Châu, một phần vì mục đích tuyên dương oai đức của Trung Hoa đã được rồi, và sau khi Tuyên Tôn chết, nhà Minh bắt đầu suy.

[sửa] Người Trung Hoa Ra Hải Ngoại Làm Ăn

Từ đời Đường, đã có nhiều người Trung Hoa ra hải ngoại làm ăn, đều ở trong khu vực Nam Dương, nên người ở Nam Dương, thường gọi họ là người Đường. Qua đời Ngũ Đại, Tống, số di dân càng đông. Đời Nguyên đem binh đánh Mã Lai, Java, tuy không chiếm được nhưng cũng có một số người Trung Hoa ở lại những đảo đó để lập nghiệp. Chính vào thời đó, một số người ở Mân (Phúc Kiến) vuợt biển đến Phi Luật Tân, chỉ cho thổ dân cách làm ruộng, nhờ vậy người Phi tiến lần từ thời du mục lên thời kỳ nông nghiệp. Từ đó trung tâm di dân của Trung Hoa ở Nam Dương.

Đời Minh, nhờ bảy lần đi sứ, và thám hiểm của Trịnh Hòa, cơ hồ không có nước nào ở Nam Dương không triều cống Trung Quốc mà phong trào di dân ra hải ngoại làm ăn càng phồn thịnh.Họ tới bán đảo Mã Lai, tới Sumatra (vào khoảng 1370). Bornéo, Java, Phi Luật Tân, quần đảo Moluques..... Ngoài ra họ còn tới Xiêm, Miến Điện, Việt Nàm ta. Ngày nay số Hoa kiều ở mấy nước đó rất đông, trên ba chục triệu là ít. Phong trào đó bắt đầu thịnh từ đời Minh.

Phần đông Hoa Kiều là người miền Nam: Phúc Kiến, Quảng Đông, họ giỏi b về thương mãi, chịu cần kiệm, cực khổ, biết giúp đỡ lẫn nhau, lập hội, lập bang (tổ chức của Hoa Kiều gốc ở cùng một tỉnh, như bang Triều Châu, Bang Quảng Đông, bang Hải Nam....) mở ngân hàng, thương hội, trường học, giữ được ngôn ngữ, phong tục, y phục, rất đoàn kết với nhau, dư tín thì gởi về quê hương, hợp thành một sức mạnh về kinh tế , lũng đoạn thi trường, kinh tế của nước họ ở nhờ. Đó là một đặc điểm của người Trung Hoa, không dân tộc nào bàng họ.

[sửa] Người Châu Âu đến Trung Quốc

Từ đời Đường, Cảnh giáo (Nestorianisme) đã vào Trung Quốc, được Thái Tôn cho dựng giáo đường ở Tràng An như ta đã biết, nhưng khoảng hai thế kỷ sau, đạo đó suy lắm. Đời Nguyên, vô uy và sự thịnh vượng của Trung Quốc vang khắp châu u nhưng Âu và Trung Hoa chưa liên lạc nhiều với nhau.

Tới thế kỷ XV, đời Minh Hiến Tông, người Bồ đào Nha tìm đường biển qua Ấn Độ, mới sang buôn bán và truyền giáo ở Trung Quốc càng ngày càng đông. Sau họ tới người Hòa Lan, Anh Cát Lợi, Tây Ban Nha.

Đời Minh Thế Tông, vào khoảng 1535, miền duyên hải Quảng Đông là nơi người Bồ Đào Nha buôn bán đông nhất, họ bỏ tiền ra thuê đất Áo Môn ( Ma cao) mỗi năm nộp thuế hai vạn lạng vàng ở cửa sông Châu Giang ( Quảng Đông) đấp thành lũy, đặt quan lại, lập căn cứ buôn bán; Áo Môn thành tô tá địa đầu tiên của người Âu ở Trung Hoa.

Bấy giờ người Tây Ban Nha tìm được Châu Mỹ, do Mỹ Châu qua Thái Bình Dương, chiếm Phi Luật Tân, và tranh nhau buôn bán với người Hoa Kiều.

Vào khoảng 1602, người Hà Lan lập công ty Đông Ấn Độ để buôn bán, sau chiếm các đảo Nam Dương rồi đến Trung Quốc, muốn dành Áo Môn của người Bồ người Bồ được cảm tình của triều đình Minh, giữ được vị trí, và người Hoà Lan bỏ Áo Môn mà sang kinh doanh ở Đài Loan. Thấy người Hòa Lan làm ăn được, người Anh Cát Lợi cũng lập công ty Đông Ấn Độ để cạnh tranh, giành được ưu thế ở Ấn rồi tiến qua Trung Hoa, năm 1637( đời Tư Tôn), đem hạm đội vào Áo Môn, cũng muốn dành nơi đó nữa. Hai bên kịch chiến , nhưng người Bồ cũng lại nhờ cảm tình của triều đình Minh, giữ được Áo Môn. Tuy nhiên, nhà Minh cũng cho người Anh được vào buôn bán.

Như vậy là cuối đời Minh, đã có bốn nước Châu Âu tranh giành nhau thị trường Trung Hoa. Qua đời Thanh họ còn tới đông hơn nữa. Giai cấp tư bản và con buôn phương Tây đã bắt đầu vươn tới Đông Á, lần lần tạo nên phong trào thực dân mà cái họa ngày nay vẫn chưa chấm dứt.

Người Bồ Đào Nha sở dĩ được cảm tình của triều đình Minh, vì họ tới trước và giúp cho Trung Hoa được vài việc. Năm 1517, (đời Vũ Tông), người Bồ Đào Nha Fernand Férez d Andrade tới Quảng Châu. Ông là , người Âu thứ nhất tới thị trấn đó. Chiếc tàu chở ôngđem theo nhiều súng ống. Từ thế kỷ thứ X trở về trước, Trung Hoa chỉ có những kiểu súng bắn đá(catapulte), thứ mạnh nhất bắn được những phiến đá nặng 100ký lô, xa 400 thước. Từ thế kỷ XI ho5 đã có một thứ đại bác dùng thuốc súng. Năm 1519 vua Minh Võ Tôn tới Nam Kinh, người Bồ Đào Nha xin được triều yết ông, ông cho họ ở Nam Kinh gần một năm. Trong thời gian đó, hoạn quan Lu7u Ca65n bỏa họ gỡ các súng đại bác ra, rồi ông sai người chép lại kiểu súng cho cho đại thần Vương Dương Minh. Nhờ vậy Vương chế tạo một kiểu súng của Bồ Đào Nha mà dẹp được mấy đám nổi loạn trong nước.

Bức họa của Matteo Ricci trong đó ông đang khoác một bộ áo choàng của Trung Quốc, năm 1611.

Năm 1580, đời Thần Tông, một tu sĩ Ý theo Giòng Tên (Jésuite) đạo KiTô, tên là Matteo Ricci, theo một đoàn thương nhân tới Áo Môn, lúc đó đã là nhượng địa của Bồ rồi. Chú ý của ông là truyền giáo, nhưng thấy người Trung Hoa còn nhiều ác cảm với người Âu nên chưa thực hiện ngay mục đích của ông. Mà họ bị người Trung Hoa ghét là phải. Họ tàn bạo không thừa nhận một luật pháp nào cả, coi tất cả người phương Đông như những con mồi ngon, họ quả là bọn ăn cướp. Năm 1557, khi được tự do ở Áo Môn, họ xây cất ở đó nhiều xưởng lớn, nấu thuốc phiện, chỉ một trong những xưởng ấy mà đã phải nộp cho chính quyền Bồ Đào Nha ở Áo Môn một số thuế mỗi năm gần bằng ba chục triệu quan cũ (Histoire de la civilisation - Will Durant).

Biết vậy nên Matteo Ricci khôn khéo bỏ hết các thói quen Châu Âu, sống như người Trung Hoa, mặc y phục Trung Hoa, học nói tiếng Trung Hoa, đọc sách Trung Hoa, theo các tục lệ Trung Hoa, cũng uống trà như người Trung Hoa, lại dùng một tên Trung Hoa nữa, Lợi Mã Đậu. Mà thực tình ông cũng quý văn minh rất cổ của Trung Hoa. Nhờ vậy ông được dân chúng mến.

Ông không đem kinh thánh ra giảng ngay, mà dạy cho người Trung Hoa những khoa học của phương Tây: số học, hình học, địa lý, thiên văn. Ông chỉ cho người Trung Hoa thấy thuyết " Trời tròn đất vuông" của họ sai. Ông trị bịnh, lập một dưỡng đường ở Nam Kinh. Lần lần người Trung Hoa thấy người Âu không phải là mọi rợ nữa, mà tò mò muốn biết tôn giáo của họ.

Matteo Ricci được giới thượng lưu Trung Hoa mến, sau cùng được vào triều yết vua Minh, xin xho đạo Ki Tô được chấp nhận. Ông dâng lên nhà vua hình Chúa Ki Tô, một bản Cựu Ước, một cây thánh giá, hai đồng hồ quả lắc, một bản đồ thế giới. Vua Thần Tôn nhận và cho phép ông dựng giáo đường ở Bắc Kinh và mỗi năm có khoảng vài trăm người Trung Hoa xin theo đạo, trong số đó có viên Thượng Thư bộ Lễ, ông dịch một số sách khoa học ra tiếng Trung Hoa, lại viết vài cuốn bằng chữ Hán nữa.

Nhưng khi ông mất, những người nối sự nghiệp của ông không sáng suốt, giỏi như ông và dân chúng Trung Hoa lại nổi lên đả đảo họ. Còn triều đình thì không cấm hẳn đạo Ki Tô, nhưng cũng không ưa, và chỉ muốn theo kỹ thuật của Âu thôi, phong chức cho bốn bác họcu ở Áo Môn để họ chế tạo cho súng ống.

Lại nhờ một thiên văn học Đức, Adam Schall soạn cho một cuốn sách về Thiên Văn và sửa lại lịch cho. Vì trong đời Nguyên, Trung Hoa dùng lịch Á Rập, và cuối đời Minh thấy ngày đó tính sai ngay nhật thực, năm 1610, Adam Schall sửa lại và y tính được đúng ngày nhật thực năm 1629.

[sửa] =Văn hóa, xã hội và kinh tế

[sửa] Văn nghệ

Sử gia đời Minh thiếu một quan niệm rõ rệt về sử, gặp việc gì cũng chép, bất kì lớn nhỏ, thành thử vụn vặt, tài liệu để lại đòi sau rất nhiều mà không dùng được. Vài nhà có giá trị là Vương Thế Trinh, Dương Thận, và Hổ Ứng Dâm.

Văn đàn đời Minh bị hai phong trào chi phối.

Trong hai thế kỷ đầu là phong trào phục cổ: đời Nguyên, cựu học bị đàn áp bao nhiêu thì bây giờ nó lại phát lên mạnh bấy nhiêu.

Nhưng phong trào ấy không giống phong trào phục cổ ở đời Đường ,Tống; văn nhân đời Minh chỉ mô phỏng cổ nhân mà thiếu tinh thần sáng tác.

Tranh vẽ Vương Dương Minh

Hồi đầu còn khá, có ít bài sánh được với cổ văn các đời trước, như bài "Tống Thiên Thai Trần Đinh Học" tử của Tống Liêm, " Mại Cam Giả Ngôn " của Lưu Cơ, " Thâm Tự Luận " của Phương Hiếu Nhụ, "Tượng Tử Kí " của Vương Thủ Nhân ( Vương Dương Minh), "Trương Lương Đình Ký " của Qui Hữu Quang. Cảm động nhất là bài " Ế Lữ Văn " của Vương Thủ Nhân.

Về sau văn nhân chỉ tranh biện nhau về chủ trương nên bắt chước đời nào: Tần, Hán hay Đường, Tống.

Trong đời Minh thịnh nhất là lối văn bát cổ (tám vế: Mỗi vế bài có tám đoạn (phá đề,thừa đề,khởi giảng,đề tỉ,hư tỉ,hậu tỉ đãi kết) và lối đó dùng để tuyển nhân tài trong các kỳ thi, mới đầu không dùng thể biền ngẫu, sau bắt buộc phải dùng thể đó, bó buộc ngưòi viết, lưu hại đến ba, bốn thế kỷ sau.

Đến giữa đời Minh, một phong trào lãng mạn xuất hiện, cầm đầu là Đường Dần , Chúc Doãn Minh và vợ chồng Dương Thận. Họ phóng túng, đắm đuối trong thi tửu đến thành cuồng , và tận lực dùng lối văn tài tử để phụng sự cái mỷ. Người ta cho rằng cái hại dó do họ hiểu lầm triết lý của Lý Trí (tự Trác Ngô) , một môn đồ của Vương. Lý chủ trương thuyết tự nhiên, cứ theo lòng mình, không chịu một sự bó buộc nào. Sử chép có hằng chục triệu theo Lý như mê cuống, song họ không biết theo cái hay của Lý; đả đảo lối văn tám vế, mà chỉ mượn tư tưởng của Lý để biện hộ cho những hành vi quá lãng mạn của họ thôi

[sửa] Thơ

Thơ chia làm ba thời kỳ:

Lý Phàn Long ngày đêm đọc cổ thư, trên tường dán đầy kiệt tác của cổ nhân, rất khổ tâm với thơ mà thơ không hay.

[sửa] Tuồng

Tuồng và tiểu thuyết là hai loại văn mới làm vẻ vang cho văn học đời Minh.

Đời Nguyên tuồng đã chia ra Bắc khúc theo âm nhạc phương Bắc và Nam khúc, dùng nhiều điệu nhạc hơn, do sáng kiến của Ngụy Lương Phụ ở Côn Sơn, cho nên gọi là Côn Khúc. Côn Khúc là khởi nguyên của hi kịch đời sau.

Tuồng đời Minh còn truyền lại được 2-3 trăm vở, giai tác được vài chục, như " Tì bà Ký " của Cao Minh, văn rất thanh nhã, lâm ly; " Kinh thoa Ký " " Bái Nguyệt Đình " của Lưu Trí Viễn, là những tuồng tình cảm có ý răn đời

Nổi danh nhất là tuồng " Mẫu Đơn Đinh " của Thang Hiển Tổ ở giữa đời Minh, lãng mạn hơn Tây Sương Ký hơn cả René của Chateau Briand, Werther của Goethe và Tyuết Hồng Lệ Sử của Từ Trẩm Á.

Một thiếu nữ họ Đỗ, nhân học thiên "Quan quan thư cưủ trong Kinh Thi mà mơ mộng hoài xuân, tâm tình u uất. Bữa nọ nàng dạo chơi trong vườn hoa, mệt quá, về phòng thiêm thiếp , mộng thấy một thanh niên tên là Liễu Mộng Mai, hai người yêu nhau, kết hôn cùng nhau. Khi tỉnh mộng, nàng ngo ngẩn, phát bệnh tương tư, tự vẽ hình mình rồi chết, chôn trong vườn hoa, Liễu Mộng Mai lại là người có thực. Một hôm tránh gió, tuyết vào trú chân trong vườn, thấy bức chân dung của nàng, quyết chí ở lại, ngày đêm tháp hương khấn vái. Hồn nàng hiện về, người và ma quyến luyến tư thông với nhau. Sau này được tái sinh, chàng thi đậu Trạng và hai bên kết hôn. Truyện đã li kỳ mà lời văn như gấm, nên ảnh hưởng lớn đến thanh niên đương thời. Tương truyền một thiếu nữ đọc rồi, đau lòng quá , đứt ruột mà chết. Một thiếu nữ khác khi lâm chung đặn cha mẹ liệm vở tuồng đó với nàng. Đủ biết thanh niên thời dó ủy mị tới bực nào! Thang Hiển Tổ còn 3 tuồng nữa cũng nổi danh và lãng mạn là " Nam Kinh Ký ", " Tử Hoa Ký ", "Hàm Đan Ký ".

Chu Duy Chi trong cuốn " Trung Quốc văn nghệ tư trào sử học " ví Thang với Shakespeare. Cả hai cùng sống một thời (Thang : 1550 - 1617, Shakespeare: 1564- 1616 ) đều đa tài, lãng mạn, bất chấp luật cổ điển : Shakespeare thì phá luật tam nhất trí, còn Thang thì bất chấp cả âm luật của tuồng: Ý ta tới đâu, ta theo tới đó, không kể lời chê bai của mọi người. Đến cuối đời Minh, tuồng bắt đầu suy: nội dung kém, vừa xa quần chúng, vừa mất tự nhiên

[sửa] Tiểu thuyết

Trong các thời đại trước, tiểu thuyết Trung Quốc chỉ mới phôi thai, qua đời Minh nó mới phát triển đầy đủkỷ thuật cao, tưởng tượng phong phú, mô tả khéo léo, tình tiết chi li. Bốn kì thư là Thủy Hử, Kim Bình Mai , Tam Quốc diễn nghĩaTây Du Ký.

Đại loại tiểu thuyết thời ấy có đặc điểm này là không biết soạn vào năm nào không kê rõ tên tác giả. Hầu hết là những chucyện được truyền khẩu trong dân gian. Khi kể thì mỗi người tùy tài riêng của mình thêm bớt ít nhiều, sau đó có người yêu văn chép lại. Vì thời đó tiểu thuyết chỉ được coi là một loại văn du hí, nên người chép thường dấu tên mà những người sau lại tự ý sửa đổi, có khi tới 5 hay 7 lượt, làm mất hẳn bản sắc của nguyên cảo, thành thử mỗi tiểu thuyết không còn là công trình của một cây bút nữa, văn không đều, có đoạn hay, có đoạn kém, mà sự nghiên cứu tác giả là một việc rất khó khăn. Hiện nay có người cho Tam Quốc Chí , Thủy Hử, Tây Du Ký xuất hiện ở đời Nguyên, có người lại sắp nó vào đời Minh. Thủy Hử được sắp vào loại tiểu thuyết anh hùng. Nguyên cảo có thể là của Thị Nại Am. Tác giả tả cảnh loạn lạc, quan lại tham nhũng, triều đình bất lực ở cuối nhà Tống, và những hành vi " thế thiên hành đạo "của bọn thảo dã anh hùng Lương Sơn Bạc ỏ Sơn Đông chống lại triều đinh để cứu dân, mà người cầm đầu là Tống Giang.

Tam Quốc Chí diễn nghĩa là một tiểu thuyết lịch sử của La Quán Trung bị người đời sau sửa đổi. Tác giả dựa vào sự thực trong lịch sử, nhưng tưởng tưọng thêm nhiều, có thể là theo thị hiếu của dân cho Tào Tháo là một tên gian hùng mà rất đề cao Khổng Minh. Kết cấu vụng về, nhưng được dân chúng rất mê, còn hơn người Pháp mê những tiểu thuyết hiệp sĩ (romans de la chevalèrie ) nữa.

Tác phẩm vĩ đại nhất là Kim Bình Mai tương truyền của Vương Thế Trinh, nhưng không chắc. truyện tả chân xã hội quan lại, sĩ phu , thương nhân sa đọa, những đồi phong bại tục của họ bằng một ngọn bút bình tĩnh mà sắc bén. tình dục và nhục cảm được ghi lại chi li, táo bạo lạ lùng, có người chê là dâm thư, và đời Thanh có lúc cấm bộ ấy, ai đọc lén thì bị đánh 100 trượng. Những bản lưu hành ngày nay đều cắt hết những đoạn thô bạo quá. Có người sắp nó vào loại tiểu thuyết diễm tình, thực ra nó là loại tả chân xã hội.

Dân tộc Trung Hoa cũng lạ thật, đề cao đức Trung dung thì không dân tộc nào bằng họ, mà hành động quá khích thì họ cũng đứng đầu: lãng mạn thì khắp thế giới không có kịch, truyện nào hơn Mẫu Đơn Đình, tả chân thì Kim Bình Mai ăn đứt các tiểu thuyết loại đó của phương tây, dâm dục thì vua chúa của họ có tới 6.000 mỹ nữ, vua nước nào bì nổi

Dâm thư thì truyện Nhục Bì Đoản (không biết của ai, có lẽ xuất hiện cùng đời Minh) cũng là độc nhất vô nhị; bảo thủ không dân tộc nào bằng mà Tần Thủy HoàngMao Trạch Đông lại muốn hủy hết di sản tinh thần của nòi giống; ba ngàn năm trước đã tôn trọng ý dân ( dân muốn là trời muốn ), vậy mà dân thời nào cũng bị ức hiếp hơn hết.

Bốn tiểu thuyết giớI thiệu ở trên: Thủu Hử, Tam Quốc Chí, Tây Du Ký, Kim Bình Mai đều được coi là những tác phẩm bất hủ của nhân loạI và đều được phưong Tây dịch đi dịch lại.

[sửa] Mỹ thuật

Hai họa sĩ có danh là Đưòng Dần, và Đổng Kì Xương vẽ sơn thủy, cây, đá, mây, khói. Nét vẽ của Đổng nho nhã, phong lư, đáng là bực thầy, nhưng thiếu cốt khí.

[sửa] Khoa học

Thiên văn và địa lý tiến bộ nhờ học của Châu Âu. Lịch pháp được cải tiến, đúng hơn trước. La Niệm An tăng bổ một địa đồ đời Nguyên, gọi là Quảng hưng đồ.

Nhà Minh trọng y học nên có nhiều y gia giỏi, phát minh được nhiều y thuật. Đời Thần Tông có Lý Thời Trân tác giả bộ Bản thảo Cương mục, tập dài thành các dược vật và cách chế dược các đời trước. Tới nay bộ đó vẫn còn được dùng.

[sửa] Suy vong

[sửa] Nội loạn

Tối, các cửa cung điện đóng hết, ngay các đại thần, thân vương nếu không có lệnh cũng không được vào. Vậy là ngoài vua ra, trong cung không còn ai là đàn ông cả. Các hoàng tử đã lớn tuổi đều ra ở cung riêng. Vua thui thủi một mình, biết chuyện trò với ai? Bọn hoạn quan đều xuất thân trong giới ti tiện, vô học, bày trò để vua giải sầu, nhất là các trò tửu sắc. Nhưng nhiều quá và dễ dàng quá thì đâm ra mau chán, cho nên có ông vua đêm đêm giả trang, theo mt tên hoạn quan ra ngoài thành, nếm các thú vui của dân chúng. Như vậy hoạn quan thành bọn tay chân của vua, nói gì vua cũng nghe, nhất là những tên đẹp trai, khéo nịnh bợ, lần lần lấn quyền của hoàng hậu, thái hậu , các thân vươngđại thần đều phải nể chúng; chúng lập phe đảng, chỉ huy quân đi, cả triều đình không ai chống lại nối, và họ tự ý phế vua này, lâp vua khác như ở cuối đời Đường. Vua nào được họ lập lên sợ họ một phép, nếu không thì họ lại phế. CHọ vơ vét bảo ngọc, vàng, kim cương nhiều hơn nhà vua và làm nhiều chuyện dơ dáy, tàn bạo ức hiếp nhân dân. Nạn đó triều đình nào cũng có, Chu Nguyên Chương biết rõ, nên ra lệnh cấm không cho hoạn quan xen vào việc nước, hạn chế hoạn quan, phẩm trật chức tước của chúng, trừng trị những tên nào phê bình chính trị, và cấm chúng học chữ. Ông bảo các đại thần : Kẻ nào dùng hoạn quan , coi như tai mắt thì kẻ đó hóa đui và điếc. Chì có mt cách xư sử với chúng là ,làm cho chúng sợ phép nước, đừng thường khen chúng.

Nhưng chỉ đến đời con ông, Thành Tổ, là hoạn quan lại được trọng dụng rồi vì khi Thành Tổ tấn công Huệ Đế thì họ làm nội ứng, biết tình hình Kinh đô, triều đình ra sao? Để thưởng công cho chúng,Thành Tổ bỏ hết những cấm lệnh của cha, cho hoạn quan được bẩm phục của công, hầu lãnh những chức lớn " chẳng hạn " Thái Giám Trịnh Hoà được cử đi sứ; ông lại lập một cơ quan ở trong cung gọi là " Đông Xứớng " để dò la tìm bắt kẻ gian thần phản nghịch, cơ quan đó được giao cho một hoạn quan điều kiển, từ đó uy thế hoạn quan rất lớn. ĐờiTiền Tôn mở một thư đường trong nội phủ , dùng các quan Hàn Lâm để dạy học các hoạn quan , chúng được kết giao với các đại thần ở triều và đa số ,càng có học, càng gian xảo. Trái hẳn với ý của Chu Nguyên Chương. Triều đình thành hoàng kim thời đại của bọn hoạn. Nhiều thanh niên tự hoạn , nhiều cha mẹ hoạn con từ khi chúng mới vài tuổi để gây dựng tương lai cho chúng, mà mong sau này chúng làm vẻ vang cho cả nhà, cả họ được nhờ, vì vậy cái họa hoạn quan đời Minh hơn cả các thời khác.

Hoạn quan Vương Chấn được Anh Tông (1436 -1449) tín nhiệm , y nói gì vua cũng nghe, xỏ mũi vua, ngược đãi đại thần, làm mưa làm gió ở triều đình, các công khanh đều sợ quyền thế của y, tới mức gọi y là ông phụ (ông bố). Thời đó quân Mông Cổ mạnh lên, bắt Minh phải cóng tiền của, bảo vật, rồi cử binh đánh Trung Hoa, hạ được nhiều đồn ải. Vương Chấn muốn lập công, khuyên Anh Tôn thân chinh, quần thần can vua, vua không nghe, rốt cuộc vua tôi nhà Minh bị vây ở đổi Thổ Mộc (Tỉnh Sát Cáp Nhỉ) Vương Chấn cùng nhiều đại thần bị giết, còn Anh Tông thì bị bắt đưa qua Mông Cổ. Triều đình lập vua Cảnh Tông lên thay, tôn Anh Tông làm Thái Thượng Hoàng. Thấy vậy, biết có giữ Anh Tông cũng vô ích. Mông Cổ đưa ông ta trả về Trung Hoa, để triều đình Minh chia rẽ vì sự tranh ngôi.

Sau sinh loạn thật. Một Đại Tướng Thạch Hanh, mưu với hoạn quan là Tào Cát Tường đem binh vào phá cửa cung.Phế Cảnh Tông, đưa Anh Tông trở lên ngôi, sau Thạch Hanh tha hồ làm bậy, mưu phản trở lại bị giết với tất cả đồng đảng.

Hiến Tông kế vị Anh Tông, hoạn quan là Uông Trực gốc gác là một giống rợ, rất xảo quyệt, được vua tin dùng Vua lập thêm Tây Xưởng , một cơ quan mật vụ nữa, chuyên dò xét quan lại ở ngoài , giao cho Uông Trực điều khiển. Bọn tay sai của Trực hà hiếp nhân dân, quan dân đều oán. Vua ham mê tửu sắc, cung phi tới số vạn , mà hoạn quan tới ba ngàn, có sách là cũng gần số vạn nữa.

Đời sau, Hiến Tôn tạm yên, rồi tới đời Vũ Tông thì hoạn quan Lưu Cận chuyên hoành lại càng mạnh, lập thêm Nội Xưởng, hễ ai nghịch ý hắn thì hắn vu hãm, triều đình rối loạn, đạo tặc nổi khắp nơi. Một người trình cho Cận một phong thư nặc danh ném ở lề đường, trong kể tội ác của Cận, cận làm giả tờ chiếu đòi hơn ba trăm quan lớn nhỏ đến quỳ ở ngoài cửa Ngọ Môn nửa ngày. Hắn mắng một hồi rồi đem bỏ ngục hết. Vua An Hóa (tỉnh cam túc) cử binh ở Ninh Hạ, nói là để về triều giết Lưu Cận, Vũ Tông sai viên Đô Ngự Sử là Dương Nhất Thanh đi dẹp được. Về triều, Dương tâu hết các tội ác của Cận, vua tỉnh ngộ, giết Cận và đuổi hết đồng đảng. Khi tịch thu tài sản của hắn, người ta thấy 57.800 đồng tiền vàng, 240.000 lượng vàng, mỗi lượng bằng mười đồng, 1.583.600 thẻ bạc, mỗi thẻ được nữa lượng, và năm triệu thỏi bạc, mỗi thỏi bằng 5 lượng, hai thùng bảo ngọc, nhiều áo giáp bằng vàng, 3000 chiếc nhẩn vàng , và nhiều bảo vật khác mà giá trị lớn hơn ngân sách quốc gia trong một cuộc phản loạn hầu cướp chính quyền.

Tranh vẽ thời Minh mô tả những binh sĩ cận vệ của Hoàng đế