Đồng tính luyến ái, viết tắt là ĐTLA, được đọc ngắn là đồng tính, hay một cách khiếm nhã là pê-đê (từ tiếng Pháp pédé, ngắn cho pédérastie - loạn dâm), hay gay (từ tiếng Anh, thường dùng cho phái nam) và lesbian (dùng cho phái nữ), là việc yêu đương hay mối quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau. Đồng tính luyến ái, song tính luyến ái và dị tính luyến ái là ba thiên hướng tính dục chính. Rất khó để xác định tỉ lệ người đồng tính trong dân chúng, theo các nghiên cứu thì tỉ lệ này là khoảng 2-7%.
Khái niệm này khác với khái niệm ái nam ái nữ, bán nam bán nữ, hay giới tính thứ ba. Đồng tính luyến ái không phải là một giới tính sinh học (cấu tạo cơ thể) hay vai trò xã hội (sự nữ tính, sự nam tính), mà là một trong những thiên hướng tính dục (sexual orientation).
Trong nhiều giai đoạn lịch sử và các nền văn hóa khác nhau, việc đồng tính luyến ái có thể được tán thành, bỏ qua hay bị trừng phạt và cấm đoán. Nhiều tôn giáo có nhiều quan điểm khác nhau về việc này. ĐTLA được coi là một dạng trong nhóm LGBT.
Hiện nay, trên quan điểm pháp luật, hầu hết các quốc gia trên thế giới không cấm đoán quan hệ tình dục giữa những người đủ tuổi. Một số địa phương công nhận đồng quyền, và đối xử những cặp đồng tính như vợ chồng. Một số địa phương khác, như các nước Hồi giáo, không chấp nhận việc quan hệ đồng tính và người quan hệ đồng tính có thể bị phạt tù hoặc thậm chí tử hình. Tại Việt Nam hiện nay không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tính[1], nhưng hôn nhân đồng tính là trái với luật hôn nhân và gia đình.
Mục lục |
Các biểu hiện về đồng tính thật sự có trong thế giới động vật, đặc biệt trong các loài chim biển, động vật có vú, khỉ và các loài linh trưởng lớn. Đã có 1500 trường hợp được quan sát, trong đó có khoảng 500 trường hợp được miêu tả khá cụ thể. Jannet Mann, giáo sư của Đại học Georgetown cho rằng, các biểu hiện đồng tính ở động vật, ít nhất là ở cá heo, là một lợi thế về tiến hóa để giảm thiểu sự xâm chiếm lãnh thổ, đặc biệt là giữa những con đực.
Các đôi chim cánh cụt đực coi nhau như những người bạn đời. Chúng xây tổ cùng nhau, lấy một hòn đá thay trứng để ấp. Năm 2004, ở Central Park Zoo, Mỹ, người ta đã thay một hòn đá của đôi chim cánh cụt đực bằng một quả trứng thật, kết quả là đôi chim đó đã chăm sóc quả trứng này cũng như con non nở ra như chính con của chúng. Hiện tượng này cũng được báo cáo bởi một số vườn thú khác.
Sự ve vãn, cùng với giao cấu, giữa những con bò đực Mỹ (bison) đã được ghi chép lại. Điều này cũng thường thấy trong các gia súc cái.
Có trường phái giải thích cho rằng do hormone: những người đàn ông có ostrogen hoặc phụ nữ có androgen quá mức sẽ có thể bị ảnh hưởng cả về thể chất và tâm lí, đồng tính luyến ái là do các hormone này.
Có người lại cho rằng mấu chốt của vấn đề lại nằm trong gen. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng 33% những người anh trai có em đồng tính luyến ái cũng sẽ trở thành đồng tính luyến ái, kể cả khi họ lớn lên trong hai môi trường khác nhau. Để giải thích, các nhà khoa học đã đề xuất một lí thuyết: bào thai nam đã sản xuất ra một loại kháng nguyên (HY) mà hầu như chắc chắn có liên quan đến sự khác biệt về giới tính ở động vật có xương sống, sẽ làm cho các kháng thể H-Y của người mẹ phản ứng lại và ghi nhớ. Các bào thai nam kế tiếp sẽ bị kháng thể HY tấn công và làm giảm khả năng thực hiện các chức năng thông thường của kháng nguyên HY để tạo ra "nam tính". Một điều thú vị là hiện tượng này chỉ xảy ra ở những người đàn ông thuận tay trái. Không có trường hợp nào được ghi nhận ở nữ giới.
Tuy nhiên, Sigmund Freud và rất nhiều nhà tâm lí học khác lại cho rằng quá trình hình thành các kinh nghiệm thời thơ ấu của trẻ góp phần định hướng giới tính của trẻ sau này. Freud nêu ra một ví dụ là phần lớn trẻ vị thành niên là người quan hệ đồng giới khi lớn sẽ trở lại bình thường. Ông tin rằng người vẫn là đồng tính luyến ái khi đã lớn đã gặp phải một sự kiện gây tổn thương về tâm lý, ngăn chặn sự phát triển giới tính bình thường của những người này. Nhưng ông cũng tin rằng tất cả người lớn, kể cả những người có một quá trình phát triển giới tính bình thường, vẫn có một "khả năng đồng tính" tiềm tàng ở nhiều cấp độ khác nhau.
Để tổng kết lại, người ta đã xem lại tất cả các nghiên cứu về vấn đề này và kết luận: Các hành vi về giới tính là rất khác nhau đối với mỗi người. Cũng như trí thông minh, thiên hướng tính dục cũng là một phần hết sức phức tạp mà khoa học hiện đại đang cố gắng giải thích bằng di truyền học... Không thể khẳng định là đồng tính hoàn toàn là do các quá trình sinh học, mà là từ phát triển qua một quá trình bao gồm cả các yếu tố sinh lý và tâm lý.
Rất nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, phần lớn con người yêu thích cả hai phái nam và nữ (bisexual), theo như quan niệm của các nước phương Tây về tính dục.
Cũng đã có rất nhiều nhà nhân chủng học có các nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, đây là một trong các vấn đề khá nhạy cảm của xã hội nên các số liệu có thể chưa nói hết được, bởi số người tự nhận mình là gay hoặc lesbian ít hơn nhiều so với thực tế.
Một báo cáo gây tranh cãi của Alfred Kinsey vào năm 1948 cho biết 37% nam giới đã có quan hệ với người đồng giới trước đó, 4% trong số đó có quan hệ chỉ một lần. Đối với phụ nữ, 2 đến 6% tuyên bố rằng họ đã từng có quan hệ này một lần.
Ở Mỹ, trong cuộc tổng tuyển cử năm 2004, người ta ghi nhận có 4% cử tri tự nhận họ là gay hoặc lesbian. Tuy nhiên, do áp lực xã hội, nhiều người có thể không công nhận thiên hướng tính dục của mình.
Ở Canada, một báo cáo vào năm 2003 của cục thống kê quốc gia cho biết trong những người Canada độ tuổi 18-59, 1% tự nhận họ là gay hoặc lesbian, 0,7% tự nhận là bisexual.
Vào cùng thời gian, một cuộc điều tra về giới tính toàn cầu, 19% người Canada và 20% người Mỹ tuyên bố họ đã từng có "kinh nghiệm" về đồng tính.
Ở Nam Phi, Trung Đông và Trung Á, nơi mà quan hệ đồng tính được coi là một thói quen, quan hệ giữa những người đàn ông là chuyện phổ biến, nhiều người còn không cho mình là đồng tính.
Trên Family Health International của WHO, các nghiên cứu cho thấy người đồng tính có dương vật to hơn đáng kể so với đàn ông bình thường[2].
Trái lại, một số người khác cho rằng việc đồng tính luyến ái là một sự lựa chọn, và có thể thay đổi được. Một số cho rằng đây là một bệnh tâm thần cần được chữa. Hơn nữa, nhiều giáo phái cho rằng đây là một cách hưởng thụ tội lỗi và cần phải thay đổi. Những nhóm người tin vào cách giải thích này đưa ra các bằng chứng của những người tự nhận là cựu ĐTLA đã được chữa khỏi.
Hiện nay, trên quan điểm pháp luật, hầu hết các quốc gia trên thế giới không cấm đoán quan hệ tình dục giữa những người đủ tuổi. Một số địa phương công nhận đồng quyền, và đối xử những cặp đồng tính như vợ chồng. Một số địa phương khác, như các nước Hồi giáo, không chấp nhận việc quan hệ đồng tính và người quan hệ đồng tính có thể bị phạt tù hoặc thậm chí tử hình. Tại Việt Nam hiện nay không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tính[3], nhưng hôn nhân đồng tính là trái với luật hôn nhân và gia đình.
Hiện nay ở Việt Nam, có một số người nêu lên quan điểm cảm thông và không kỳ thị đối với người đồng tính tuy nhiên không ủng hộ hay cổ xúy xu hướng này. Đa số dân chúng có thái độ e ngại hoặc khinh thường và thường đánh đồng người đồng tính và người chuyển đổi giới tính. Một số bộ phim miêu tả những nhân vật đồng tính nam như những người có hình dáng và điệu bộ nữ tính, không nghiêm túc. Một số tác phẩm văn học có cái nhìn trực diện về giới đồng tính như Một thế giới không đàn bà về người đồng tính nam (đã được dựng thành phim) và Vòng tay không đàn ông về người đồng tính nữ của Bùi Anh Tấn. Không có nhiều tổ chức, phong trào nhằm giáo dục, định hướng cho người đồng tính ở Việt Nam. Câu lạc bộ Hải Đăng ở Hà Nội và Câu lạc bộ Bầu trời xanh ở Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập nhằm giáo dục người đồng tính về phòng chống HIV và giúp đỡ họ có cuộc sống lành mạnh.
Theo các nhà nghiên cứu Colby, Cao và Doussantousse, tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về đồng tính luyến ái. Trước sự xuất hiện của HIV/AIDS tại Việt Nam đầu thập niên 1990, có rất ít thông tin về đồng tính luyến ái. Theo bác sĩ Trần Bồng Sơn, nhà giới tính học nổi tiếng nhất[3]" tại Việt Nam, có hai loại người đồng tính: "thật" và "giả". Những người "đồng tính thật" là những người đồng tính bẩm sinh, và số người này rất hiếm. Theo ông, hầu hết những người đồng tính là "giả", bị bạn bè rủ rê để thử nghiệm các lối mới nhưng cuối cùng cũng trở về lối thường. Sau trao đổi ý kiến với ông Sơn, các nhà nghiên cứu Colby, Cao và Doussantousse cho rằng quan điểm đó là ý kiến cá nhân của ông Sơn, chứ không phải từ các nghiên cứu hay tài liệu. Tuy thế, vì bác sĩ Sơn có nhiều ảnh hưởng, quan điểm này đã được lặp lại nhiều lần tại Việt Nam và được xem là đúng[3].
Thái độ của xã hội về đồng tính phản ánh thái độ của chính quyền và tôn giáo, đã thay đổi rất nhiều trong suốt chiều dài lịch sử cũng như bề rộng của Trái Đất, từ việc bắt mọi người đàn ông có quan hệ, đến việc chấp nhận, đến việc xem nó như một tội nhỏ bị cấm đoán qua luật pháp và tòa án, cho đến việc xem nó như là một trọng tội đáng bị xử tử.
Trong xã hội Hy Lạp cổ đại và Nhật Bản, khuyến khích quan hệ giữa các chiến binh dày dạn kinh nghiệm với cấp dưới của họ, với sự tin tưởng là tình yêu giữa họ sẽ làm cho cả hai chiến đấu dũng mãnh hơn.
Thời Trung cổ, với sự du nhập của đạo Thiên chúa vào châu Âu (thế kỉ thứ 4), hiện tượng này giảm dần. Họ cho rằng quan hệ đồng tính là một tội ác, nên không được phục vụ trong quân đội. Châu Á và Ả Rập lại không có những quan điểm khắc nghiệt như vậy. Nghìn lẻ một đêm đã ghi lại rất nhiều quan hệ thân thiết giữa những người đàn ông.
Thời Đức quốc xã, chính quyền cố ý tiêu diệt những người đồng tính vì cho rằng họ là "sự lầm lạc của xã hội". Khoảng từ 5000 đến 15.000 nam giới đồng tính bị đưa vào trại tập trung và giết hàng loạt. (Xem thêm)
Hiện nay, hầu hết các quốc gia không ngăn cản quan hệ giũa các cá nhân đã qua tuổi cho phép của mỗi địa phương. Một số nơi còn công nhận, bảo vệ và ưu tiên cho việc tổ chức đám cưới đồng giới như Nam Phi, Israel, Bỉ, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Canada và một số tiểu bang ở Mỹ. Nhiều nước cũng hợp pháp hóa quan hệ giữa những người đồng tính. Nhưng ở các nước như Iran, Nigeria, Mauritania, Pakistan, Ả Rập Saudi, Sudan, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Yemen tuyên án tử hình họ. Nhiều hành vi bạo lực như tấn công bất ngờ, giam giữ, hãm hiếp, tra tấn, giết người hướng tới những người đồng tính do cá nhân hay một nhóm, một tổ chức thực hiên đã xuất hiện trên khắp thế giới.
Một số người đồng tính ái nổi tiếng là ca sĩ Elton John (từng được nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ), Alan Turing (cha đẻ của ngành khoa học máy tính).
Tôn giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra quan điểm của một xã hội đối với đồng tính luyến ái. Trong lịch sử, chỉ có các tôn giáo theo truyền thống Abraham xem đồng tính luyến ái là một việc tiêu cực. Các nhóm không chịu ảnh hưởng của các tôn giáo theo truyền thống Abraham thường xem đồng tính luyến ái như một điều thiêng liêng hay không có ý kiến. Trong thời gian bị đô hộ bởi các đế quốc thực dân theo truyền thống Abraham, một số nhóm trước kia không theo truyền thống Abraham đã có quan điểm tiêu cực về việc ĐTLA. Một ví dụ là khi Ấn Độ trở thành một phần của Đế quốc Anh, nhiều luật lệ chống kê gian đã được thông qua trong khi trong Ấn Độ giáo không có lý do để chống điều này. Ấn Độ cho đến nay vẫn còn giữ một số luật lệ này.
Giáo hội Công giáo cho rằng quan hệ đồng tính là biểu hiện của bệnh tâm thần hoặc là "trái với tự nhiên".
Đạo Hindu lại không có quan điểm rõ ràng về vấn đề này.
Đạo Sikkism không có văn bản chính thức, nhưng xã hội của họ tương đối bảo thủ với vấn đề này.
Nho giáo cho phép quan hệ đồng giới nhưng với điều kiện vẫn phải duy trì nòi giống.
Đạo Hồi cho rằng tình yêu giữa những người đàn ông với những thanh niên trẻ đẹp là điều tự nhiên, nhưng sex lại là vượt qua giới hạn.
Đạo Phật truyền thống không quan tâm đến vấn đề này, nhưng bây giờ các nước từng bị phương Tây xâm lược như Ấn Độ lại có thái độ ghê tởm.
Một số dòng của Thiên chúa giáo không phản đối, nhưng một số dòng khác lại cho rằng quan hệ đồng tính là tội ác.
Nam quan hệ với nam không chỉ bao gồm người đồng tính luyến ái nam, song tính luyến ái nam mà bao bồm tất cả người nam có quan hệ tình dục với nam.
Quan hệ tình dục giữa hai người nam có thể bao gồm cùng thủ dâm, tiếp xúc dương vật, quan hệ đường miệng hoặc hậu môn. Những người nam quan hệ với nam có xu hướng có nhiều bạn tình. Một nghiên cứu của tổ chức Social Organization of Sexuality vào 1990 cho thấy một người nam đã từng có ít nhất một bạn tình là nam trong vòng 5 năm thì cũng có số bạn tình trung bình là 16,7 trong khoảng thời gian đó trong một người nam chỉ quan hệ với phụ nữ thì có số bạn tình trung bình là 4,8 trong cùng khoảng thời gian.
Họ bị nhiễm HIV nhiều hơn những người nam quan hệ với phụ nữ ở phương Tây, Nhật Bản, Ấn Độ và Đài Loan. Ở phương Tây, họ có xu hướng quan hệ tùy tiện và không an toàn nên có nguy cơ lây nhiễm HIV cao và cũng có xu hướng nhận được ít sự giúp đỡ để giảm khả năng lây nhiễm hơn. Điều này dẫn đến sự lây lan nhanh chóng trong những nhóm nhỏ đồng tính nam. Vào 2006, 62% đàn ông Mỹ bị lây HIV từ việc quan hệ với đàn ông khác so với 13% bị lây từ những phụ nữ có nguy cơ HIV cao. Lây nhiễm tăng 12% hằng năm ở Mỹ đối với người nam quan hệ với nam ở độ tuổi 13 đến 24.
Nam quan hệ với nam có tỉ lệ ung thư hậu môn cao gấp 17 lần nam đồng tính luyến ái có thể do HPV, một loại virus. Nhiều người bị nhiễm HPV chẳng bao lâu sau khi bắt đầu quan hệ tình dục. Một phần do có nguy cơ STD cao, họ thường bị cấm hiến máu hoặc nội tạng.
Nữ quan hệ với nữ không chỉ bao gồm người đồng tính luyến ái nữ, song tính luyến ái nữ mà bao bồm tất cả người nữ có quan hệ tình dục với nữ.
Quan hệ giữa nữ với nữ có thể bao gồm tribadism (quan hệ hình hai chiếc kéo), cùng thủ dâm, quan hệ đường miệng và dùng công cụ hỗ trợ tình dục để đưa vào âm đạo hay miệng hoặc kích thích âm vật. Nữ có bạn tình là nữ thường có xu hướng có nhiều bạn tình hơn thông thường. Một nghiên cứu của tổ chức Social Organization of Sexuality cho thấy nữ quan hệ với nữ có trung bình 10,1 bạn tình trong khi nữ quan hệ với nam có trung bình 2,2 bạn tình.
Tập quán tình dục thay đổi theo thời gian. Khái niệm "đồng tính luyến ái" hiện đang được hiểu ở các nước Tây phương là một khái niệm mới, không tương ứng với khái niệm trước đây. Trong cuộc đời của nhiều người quan trọng trong lịch sử như Alexandre Đại Đế, Leonardo da Vinci, Michelangelo, Plato, v.v. có thể được xem là có quan hệ tình dục với người cùng phái, nhưng khái niệm "đồng tính luyến ái" hiện đại là một khái niệm họ chưa được biết đến.
Tại châu Á việc ái tình đồng tính là một việc hằng ngày từ xưa. Những người Tây phương đến các khu này thường sửng sốt về việc nó được chấp nhận và trưng bày công khai.
Tại Trung Quốc, quan hệ đồng tính được ghi nhận từ năm 600 TCN. Nhiều từ nói trại được dùng để miêu tả việc này. Các mối quan hệ thường giữa những người có tuổi tác và địa vị xã hội khác biệt nhau. Trong quyển Hồng Lâu Mộng, những việc âu yếm và quan hệ tình dục giữa những người đồng giới không gì xa lạ đối với độc giả.
Tại Nhật Bản, thói quen này được gọi là shudo (chúng đạo) hay nanshoku (男色 nam sắc), đã được ghi lại trong nhiều tài liệu trên một nghìn năm và là một phần quan trọng trong các tu viện đạo Phật cũng như truyền thống samurai. Nền văn hóa ái tình đồng tính này đã dẫn đến một truyền thống hình vẽ và văn chương ghi nhận và ca tụng các quan hệ này.
Truyện kể Genji là một trường thiên tiểu thuyết của Murasaki Shikibu (Bà Murasaki- Một nữ sĩ cung đình Nhật Bản) cũng đề cập đến mối quan hệ này.
Tương tự, tại Thái Lan không có khái niệm "đồng tính luyến ái" mãi đến cuối thế kỷ 20. Tuy nhiên, kathoey hay "trai nữ" (cô chàng) là một phần trong xã hội Thái trong nhiều thế kỷ. Họ là những người nam giới ăn mặc quần áo phụ nữ, có thể đã cắt bỏ phần ngoài của bộ phận sinh dục nam. Họ thường được xã hội chấp nhận, không bị phiền toái, tuy nhiên một gia đình có con trai trở thành kathoey thường thất vọng. Quan niệm của đạo Phật trong xã hội Thái chấp nhận một giới tính thứ ba.
Quan hệ đồng tính hiện đang hợp pháp tại Đài Loan, Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan và Campuchia. Tại Singapore, Malaysia, Myanma và Ấn Độ, vì là những cựu thuộc địa của Anh, nó bất hợp pháp.
Những tài liệu Tây phương lâu đời nhất (trong hình thức mỹ thuật, văn học, và truyền thuyết) về mối quan hệ đồng tính được tìm thấy từ Hy Lạp thời thượng cổ, nơi các mối quan hệ đồng tính được xã hội tạo nên, được thành lập qua thời gian từ thành phố này đến thành phố khác. Lệ này, một hệ thống của những mối quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi và một thanh niên đang trưởng thành, được xem là có giá trị dạy dỗ, đồng thời để kiềm chế mức độ gia tăng dân số, đôi khi bị xem là làm mất trật tự. Plato đã ca ngợi những lợi ích của việc này trong các tác phẩm lúc đầu, nhưng trong các tác phẩm sau này ông đã đề nghị ngăn cấm nó.
Trong thời Phục Hưng, những thành phố ở miền bắc nước Ý, đặc biệt là Firenze và Venezia, rất nổi tiếng về việc ái tình đồng tính, được phần đông dân số nam theo và được tạo theo kiểu mẫu ở Hy Lạp và La Mã (Ruggiero, 1985; Rocke, 1996). Tuy nhiên, trong khi phần đông dân số người nam theo tục lệ này, những nhà chức trách vẫn khởi tố, phạt và bắt bớ nhiều người.
Chính nhạc disco có nguồn gốc từ sự liên kết ban đầu với lối sống của một bộ phận giới đồng tính luyến ái nam ở Thành phố New York và sau đó được phát triển trên nền tảng nhạc đại chúng da đen trong những năm của thập niên 1970.
Trong xã hội thổ dân Bắc Mỹ, hình thức đồng tính luyến ái phổ biến nhất là những người được xem là có hai linh hồn. Những người này được hầu hết các bộ lạc công nhận và đặt tên cho vai trò này. Thường những người có hai linh hồn được công nhận lúc còn nhỏ, được cha mẹ cho lựa chọn để theo con đường này. Nếu đứa bé nhận vai trò, nó sẽ được dạy dỗ về các nhiệm vụ của mình, theo các phong tục của giới tính mà nó đã chọn. Những người này thường làm thầy pháp nhưng được xem là có nhiều quyền phép hơn các thầy pháp thường. Trong lĩnh vực tình dục, họ sẽ có quan hệ với những người khác phái.
Nhiều nhà thơ Hồi giáo (hầu hết là Sufi) tại các nước Ả Rập và Ba Tư trong thời trung cổ đã viết thơ ca tụng những thằng nhỏ đem rượu cho họ trong các quán rượu và ngủ chung giường với họ. Trong một số nền văn hóa Hồi giáo tục lệ đồng tính luyến ái rất phổ biến (xem Burton, Gide), và vẫn còn tồn tại ngày nay.
Tại Trung Á, trên Đường tơ lụa, nơi giao điểm giữa hai nền văn hóa đông-tây, đã nảy ra một văn hóa đồng tính luyến ái. Trong đó có người bachá, thường là người tiếp đãi viên đồng thời làm nghề mại dâm thanh niên phái nam ăn mặc lộng lẫy và có trang điểm. Những người bachá hát và múa những bài hát khiêu dâm cho khán giả. Họ được huấn luyện từ còn nhỏ và làm việc cho đến khi râu mọc.
Từ năm 1973, các nhà tâm lý học không còn xem đồng tính luyến ái là một bệnh tâm thần nữa. Trong vài ba thập kỉ nay, tại các nước Tây phương có sự hình thành của một nền văn hóa của những người ĐTLA. Tuy nhiên, cũng có nhiều người ĐTLA không tham gia trong xã hội đó.
Sau khi bị chính quyền Đức quốc xã cố ý tiêu diệt trong Đệ nhị thế chiến, những người đồng tính đã giành được nhiều quyền, đặc biệt là tại các nước Tây phương. Một số quốc gia gần đây đã cho phép người đồng tính có quyền kết hôn cũng như nhận con nuôi. Sự xuất hiện của HIV/AIDS trong giữa thập niên 1980 là một trong những điều mà nhóm người ĐTLA phải đương đầu trong thời gian gần đây.
Trong lĩnh vực tôn giáo, một số tôn giáo cũng bắt đầu tỏ ra cởi mở với người đồng tính. Một giáo phái Do Thái giáo cũng bắt đầu mở dịch vụ làm lễ kết hôn cho người đồng tính, trong khi nhóm Anh giáo đã nhận một mục sư đồng tính.
| Tìm thêm về Homosexuality tại một trong những đồng dự án của Wikipedia | |
| Wiktionary – từ điển | |
| Wikibooks – sách giáo khoa | |
| Wikiquote – danh ngôn | |
| Wikisource – văn kiện | |
| Commons – hình ảnh | |