| Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia. Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác. |
| Bài này hoặc đoạn này được đề nghị hợp nhất với bài SA-2 Guideline, vì hai bài đều nói về SAM-2 (Thảo luận) |
SAM 2 (Tên tiếng Nga: Lavochkin OKB S-75 là tên gọi của tên lửa đất đối không tầm cao định hướng bằng radar do Liên Xô sản xuất. Kể từ khi được triển khai đầu tiên vào năm 1957, SAM2 đã trở thành tên lửa phòng thủ trên không được triển khai nhiều nhất trong lịch sử.
SAM2 được công chúng biết đến lần đầu tiên khi bắn rơi một chiếc U2 của Không lực Mỹ khi bay qua Liên Xô vào năm 1960. Sau đó, trong chiến tranh Việt Nam, Miền Bắc Việt Nam đã dựa chủ yếu vào SAM2 để phòng thủ Hà Nội và Hải Phòng. Trung Quốc cũng tự sản xuất SAM2 và đặt tên là HQ-1 và HQ-2. Các quốc gia khác cũng sản xuất nhiều phiên bản SAM2 khác nhau thông qua việc phát triển các cấu phần và kết hợp SAM2 với các hệ thống khác. Vì vậy, ngày nay khó có thể tìm thấy một chiếc SAM2 như ban đầu.
Phát triển Đầu thập niên 50, Không lực hoa kỳ đẩy mạnh phát triển máy bay ném bom tầm xa mang theo vũ khí hạt nhân. Chương trình này của Không lực Hoa Kỳ dẫn đến việc phát triển máy bay Boeing B-47 Stratojet được hỗ trợ bởi máy bay cấp nhiên liệu trên không để nâng tầm hoạt động tới Liên Xô. Tiếp theo, Không lực hoa kỳ phát triển pháo đài bay B-52 với tầm hoạt động xa hơn và mang nhiều bom hơn B-47. Tầm hoạt động, tốc độ và khả năng mang bom của những máy bay ném bom này là một đe dọa lớn đối với Liên Xô trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa hai nước. Kết quả là Liên Xô bắt đầu phát triển hệ thống phòng thủ trên không. Mặc dù Liên Xô đã có tương đối nhiều pháo phòng không, kể cả pháo phòng không dẫn hướng bằng radar, giới hạn của súng so với máy bay ném bom tầm cao là hiển nhiên. Vì thế, người Xô viết bắt đầu xây dựng hệ thống tên lửa để thay thế hệ thống phòng thủ bằng súng cổ lỗ từ thời thế chiến thứ 2. Năm 1953, Lavochkin OKB bắt đầu phát triển hệ thống mà sau này trở thành S-75 dưới sự chỉ đạo của Petr Grushin. Chương trình này tập trung vào xây dựng tên lửa để có thể bắn hạ máy bay ném bom cỡ to bay ở tầm cao và không có khả năng thực hiện các động tác tránh (như máy bay chiến đấu). Vì vậy, tên lửa không cần phải có khả năng đổi hướng liên tục, chỉ cần đơn giản là nhanh và tránh được các biện pháp chống tên lửa của máy bay. Đối với hệ thống như vậy, nghiên cứu phát triển diễn ra nhanh chóng và thử nghiệm được tiến hành vài năm sau. Cuộc thử nghiệm gặp một sự cố khá buồn cười khi một nghị sĩ Mỹ đang bay trên một chuyến bay đêm ở Liên Xô nhìn thấy và cho rằng đó là đĩa bay. Công bố của ông ta về điều này đã gây ra một nỗi lo sợ ở Mỹ [citation needed]. Năm 1957, công chúng biết được sự hiện diện của S-75 khi tên lửa này được trình diễn trong lễ duyệt binh nhân ngày Quốc tế lao động ở Matxcơva
Triển khai với quy mô rộng bắt đầu từ năm 1957 và sau đó nhiều lần được nâng cấp. S-75 mặc dù không thay thế các phòng thủ tên lửa S-25 Berkut ở khu vực xung quanh Matxcơva nhưng đã thay thế súng phòng không tầm cao như súng 130 mm KS-30 và 100 mm KS-19. Giữa năm 1958 và 1964, mật vụ Mỹ đã xác định tới hơn 600 điểm triển khai SAM2 trên toàn Liên Xô. Các điểm này thường gắn liền với các trung tâm đông dân, khu công nghiệp và trung tâm chính phủ. Một số điểm cũng được triển khai trên các tuyến mà máy bay ném bom có thể bay để tới được trung tâm Liên Xô. Tới giữa thập kỷ 60, Liên Xô đã kết thúc quá trình triển khai với khoảng 1000 điểm.
Ngoài Liên Xô, nhiều tên lửa SAM-2 cũng được triển khai trong thập niên 60 ở Đông Đức để bảo vệ lực lượng Xô Việt trên nước này. Sau đó, tên lửa được bán cho hầu hết các nước theo hiêp ước Vacxava và sau đó là Trung Quốc, Cộng hòa dân chủ Nhân dân Triều Tiên và cuối cùng là Việt Nam.