| Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. Nếu không, những câu hay đoạn văn không có chú giải nguồn gốc có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào. |
Từ điển là danh sách các từ, ngữ được sắp xếp thành các từ vị chuẩn (lemma). Một từ điển thông thường cung cấp các giải nghĩa các từ ngữ đó hoặc các từ ngữ tương đương trong một hay nhiều thứ tiếng khác. Ngoài ra còn có thể có thêm thông tin về cách phát âm, các chú ý ngữ pháp, các dạng biến thể của từ, lịch sử hay từ nguyên, cách sử dụng hay các câu ví dụ, trích dẫn. Đối với các ngôn ngữ sử dụng ký tự Latin thì các từ có thể được sắp xếp theo thứ tự chữ cái. Đối với các ngôn ngữ tại Đông Á sử dụng ký tự là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa thì từ điển được gọi là tự điển. Thông thường từ điển được trình bày dưới dạng sách, ngày nay từ điển còn được số hóa và cung cấp dưới dạng phần mềm máy tính hay truy cập trực tuyến trên web, trên trình nhắn tin nhanh, hay có trong các thiết bị số cá nhân như PDA, điện thoại...
Từ điển là nơi giải thích thông tin về ngôn ngữ của con người một cách dễ hiểu và khách quan nhất. Từ điển có nhiệm vụ, nhất là từ điển bách khoa toàn thư, giúp người xem hiểu và vận dụng (sử dụng) chính xác một từ, ngữ, thuật ngữ, thành ngữ, khái niệm, phạm trù hay một vấn đề cụ thể trong đời sống xã hội con người. Từ nhiệm vụ này, từ điển đã được hình thành dưới nhiều dạng thức tồn tại khác nhau, góp phần giải quyết (hay đáp ứng) một hoặc nhiều nhu cầu khác nhau trong đời sống xã hội loài người. Đến nay, đã có các dạng thức từ điển như: từ điển bách khoa toàn thư, từ điển triết học, từ điển thành ngữ, từ điển song ngữ, từ điển thần học, từ điển tiếng lóng, từ điển ngôn ngữ phụ nữ...
Mục lục |
Hiện nay đã có rất nhiều loại từ điển khác nhau. Chúng gần như hoàn toàn độc lập với nhau. Nhưng, như Ladislav Zgusta đã nhận xét ngay ở lời mở đầu công trình về từ điển học của mình (1971)[cần dẫn nguồn], một trong những đặc điểm lạ lùng nhất của từ điển học là các nhà từ điển rất ít trao đổi kinh nghiệm với nhau. Sự phân lập này có thể dẫn đến hiện tượng mâu thuẫn về nội dung của cùng một vấn đề trong các từ điển khác nhau. Như vậy, tính tương đối của tự điển có thể phát sinh khi xem xét về cùng một vấn đề ở hai từ điển khác nhau.
Từ điển mang đậm phong cách của nhóm tác giả biên soạn ra nó. Tính tương đối của từ điển còn có nguyên nhân từ sự khác biệt của mỗi nền văn hóa - văn minh, ngôn ngữ, dân tộc, quốc gia trên thế giới. Mỗi thành tố trên có thể lý giải về cùng một hiện tượng xã hội theo nhiều quan điểm, tư tưởng hay chính kiến khác nhau. Do đó, có thể cùng một khái niệm, nhưng tùy theo mỗi nền văn hóa khác nhau, có thể có cách sử dụng (vận dụng) khác nhau.
Như vậy, tính tương đối của từ điển có thể xuất phát từ sự chậm trễ khi cập nhật, sự phân lập của các nhà từ điển học hoặc sự khác biệt của các nền văn hóa trên Trái Đất.
Hiện nay, từ điển bách khoa toàn thư có vô số bài viết về nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội loài người. Tuy nhiên, đại thể có thể phân thành hai nhóm lớn như sau[cần dẫn nguồn]:
Ngoài ra, trong nhóm làm nhiệm vụ giải thích này, còn có nhiều bài viết nhằm giải thích các hiện tượng xảy ra trong cơ thể con người, gia đình, trong tự nhiên hay trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội loài người... Ví dụ như: Sức ỳ trong tư duy là gì? Lạm phát là gì? Thủy triều là gì? Cách mạng là gì? ... Nhóm bài viết này có phổ biến trong từ điển bách khoa toàn thư.
1. Các mục từ (đơn vị từ vựng) được xếp theo thứ tự các chữ cái:
a ă â b c d đ e ê f g h i j k l m n o ô ơ p q r s t u ư v w x y z
2. Thứ tự các dấu giọng của nguyên âm đơn: không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng. Trật tự trên có thể được liệt kê như sau:
a à ả ã á ạ ă ằ ẳ ẵ ắ ặ â ầ ẩ ẫ ấ ậ (ai, ài, ải...)
e è ẻ ẽ é ẹ ê ề ể ễ ế ệ (eo, èo, ẻo...)
i ì ỉ ĩ í ị (iêu, iều, iểu...)
o ò ỏ õ ó ọ ô ồ ổ ỗ ố ộ ơ ờ ở ỡ ớ ợ (ôi, ồi, ổi...)
u ù ủ ũ ú ụ ư ừ ử ữ ứ ự (ui, ùi, ủi...)
y ỳ ỷ ỹ ý ỵ
3. Quy luật ưu tiên trước - sau:
3.1. Ưu tiên ngắn - dài: Từng khối chữ (tổ hợp các con chữ) được sắp xếp trước - sau theo thứ tự sau: đơn tiết xếp trước đa tiết (tính từ trái sang phải). Các khối chữ viết thường xếp trước khối chữ viết hoa.
Theo đó, dạng ưu tiên này được thể hiện như sau: khối chữ nào có ít con chữ hơn (thường là âm tiết) được xếp trước khối chữ (có phần trùng với khối chữ có ít con chữ) có nhiều chữ hơn. Ví dụ: a xếp trước A; "ta" xếp trước "tay".
3.2. Ưu tiên chữ trước - dấu sau:
3.2.1. Đối với từ đơn tiết, được ưu tiên sắp xếp theo thứ tự chữ cái khác nhau đầu tiên, bất kể nó mang dấu gì. Ví dụ: "tà" xếp trước "tay"; "tai" xếp trước "tay" trong mọi trường hợp (vì i xếp trước y).
3.2.2. Đối với từ đa tiết, căn cứ vào thứ tự của từng âm tiết từ trái sang phải để sắp xếp, sau mới căn cứ vào thanh điệu. Ví dụ: "ba ba" xếp trước "ba gác"; "ba ba" xếp trước "bà cô" (vì "ba" xếp trước "bà").
3.2.3. Đối với những hình thức ghi cách phát âm phổ biến của mục từ vay mượn tiếng nước ngoài kiểu như ba-ga, a-xít..., thì dấu gạch ngang xem như khoảng trắng và xếp bình thường như một từ đa tiết. Ví dụ: "a tòng" xếp trước "a-xít".
Khi phiên âm các đơn vị từ vựng nước ngoài, về nguyên tắc, dấu gạch ngang (-) được quy ước như là khoảng trắng, nhưng theo luận lí thì nó vẫn phải xếp sau đơn vị từ vựng có cùng khối chữ nhưng cách nhau bằng khoảng trắng thực sự. Ví dụ: "a lô" xếp trước "a-lô".
3.3. Ưu tiên kí hiệu & số: Các kí hiệu (symbol) và kí số (number) thì xếp trước kí tự (character). Ví dụ: !, #, $, %, &, @..., 0, 1, 2, 3, ...9 luôn luôn đứng trước a, b, c; B1 xếp trước B2 và ba, v.v.
Tóm lại, thứ tự sắp xếp ưu tiên là: khối chữ (nghĩa trọn vẹn của khối chữ) xếp trước, sau đến các kí hiệu nằm ngoài khối chữ (trước và sau khối chữ), tiếp đến nội bộ khối chữ (các dấu gạch ngang, dấu phẩy, dấu ba chấm...).
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |