Netencyclo tiếng Việt, The wikipedia mirror - The biggest multilingual encyclopedia : T-72

- T-72 -

T-72 :

T-72

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
T-72
T-72
T-72 tại Bảo tàng Tăng Worthington, Canada.
Loại Tăng chiến đấu chủ lực
Nơi sản xuất Cờ Liên Xô Soviet Union
Lịch sử
Sử dụng 1973 - nay
Quân đội Xem Các quốc gia sử dụng
Sử dụng trong chiến tranh Xem Lịch sử chiến đấu
Lịch sử sản xuất
Sản xuất 1971 - nay
Số lượng 25.000+
Dạng Xem Các phiên bản
Đặc điểm
Trọng lượng 41 tấn
41.5 tấn đối với T-72M [1]
45.7 tấn (không có ERA) đối với T-72M1[2]
49.1 tấn đối với T-72B[2]
44.5 tấn đối với T-72S[3]
Dài 6.9 m
6.67 m (9.53 m với nòng pháo phía trước) đối với T-72A[3]
6.95 m (9.53 m với nòng pháo phía trước) đối với T-72M1, T-72B và T-72S[2][3]
Ngang 3.6 m
3.59 m (3.37 m không có tấm giáp chắn sườn) đối với T-72A, T-72M1, T-72B và T-72S[2][3]
Cao 2.2 m
2.19 m đối với T-72A[3]
2.23 m đối với T-72M1 và T-72B[2]
2.22 m đối với T-72S[3]
Tổ lái 3 (chỉ huy, lái xe và pháo thủ)

Độ dầy lớp giáp Composite armour; including armoured infrared light and smoke grenades; 3rd Generation composite; including high-hardness steel, tungsten and plastic filler with ceramic component
500 mm (19.7 in) front of the turret (T-72M1)[2]
520 mm (20.5 in) front of the turret (T-72B)[2]
Súng
lớn
Pháo nòng trơn 125 mm 2A46M, T-72B có thể phóng ATGM AT-11 "Svir"
Súng
phụ
Súng máy đồng trục hạng nhẹ PKMT 7.62 mm (2.000 viên đạn)[2]
súng máy phòng không hạng nặng 12.7 mm DShK 1938/46 hoặc NSVT (300 viên đạn) phía trên vị trí chỉ huy[2]
Động cơ Động cơ 12-xylanh V-46-6 đối với T-72 "Ural"
động cơ 12-xylanh V-84 làm lạnh bằng khí đối với T-72B và T-72S[3]
động cơ 12-xylanh V-92S2 đối với T-72BM (T-72B "Rogatka")
780 hp (582 kW) với T-72 "Urał"
840 hp (626 kW) với Objekt 172-2M "Buffalo" và T-72B
1000 hp (746 kW) với T-72BM (T-72B "Rogatka")
Năng suất 19 hp/tấn (14.2 kW/tấn) với T-72 "Urał"
20.5 hp/tấn (15.3 kW/tấn) với Objekt 172-2M "Buffalo" và T-72B
24.9 hp/tấn (18.2 kW/tấn) với T-72BM (T-72B "Rogatka")
Ống nhún thanh xoắn
Khoảng cách mặt đất 490 mm[2]
Dung tích chứa nhiên liệu 1200 l (317 gal )[2]
Tầm hoạt động 450 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 600 km
460 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 700 km cho T-72A, T-72M1 và T-72S[3][2]
500 km, với thùng nhiên liệu đặt ngoài tăng lên 900 km cho T-72B[3][2]
Vận tốc 60 km/h (37 mph) trên đường tốt[2][3]
45 km/h trên đường đất[3]

T-72 là xe tăng chiến đấu chủ lực của Liên Xô, được sản xuất vào năm 1971 và ra mắt vào năm 1977. T-72 được phát triển từ T-64, nhưng không phải đơn thuần là một mẫu cải tiến mà là một kiểu mới hoàn toàn và vượt trội so với người tiền nhiệm của mình. T-72 nhanh chóng trở thành xe tăng chủ lực trong quân đội Liên Xô những năm 1970 và là niềm tự hào cuả Bộ đội tăng thiết giáp Xô Viết : ngay lúc nó ra đời, những mẫu tăng cùng thời như M60A3 PattonLeopard I trở thành “đồ bỏ”. Tuy nhiên, thời gian “tại vị” của nó không dài: ngay từ thập niên 1980 trở đi nó đã trở nên lạc hậu so với các loại như T-80U, M1 Abrams, Leopard II, Challenger... Trong chiến tranh vùng Vịnh, lực lượng T-72 đông đảo của Irak (hơn 1000 chiếc) đã bị xe tăng M1A2 và trực thăng Apache của Mĩ đánh tơi tả (mặc dù có ý kiến cho rằng nguyên do chủ yếu là sự yếu kém của binh lính Irak và các mẫu T-72 của Irak là các mẫu xuất khẩu kém chất lượng).

Mặc dù vậy, T-72 vẫn còn được sử dụng tương đối rộng rãi ở nhiều quốc gia, thậm chí vẫn được xem là đối thủ đáng gờm của các xe tăng hiện đại. Bản thân nước Nga vẫn đang sử dụng 300 xe tăng T-72, tất nhiên là bản nâng cấp, trong quân đội của mình.

T-72 tham gia rất nhiều cuộc chiến tranh ở châu Âu và trên thế giới như: Chiến tranh Chechen 1 và 2, Chiến tranh Kosovo, chiến tranh Vùng Vịnh.

Mục lục

[sửa] Thông số

41 tấn với T-72
41,5 tấn với T-72M
49,1 tấn với T-72B
44,5 tấn với T-72S
125mm loại 2A46M nòng trơn
T-72B có thể bắn tên lưả chống tăng AT-11 Svir qua nòng pháo
1 đại liên 12,7mm trên tháp pháo loại NSV hay DKSh
1 đại liên đồng trục 7,62mm
V-46-6 12-cylinder diesel 780 mã lực với T-72 "Ural"
V-84 12-cylinder diesel 840 mã lực làm mát bằng không khí với T-72B and T-72S
V-92S2 12-cylinder diesel 1000 mã lực với T-72BM

[sửa] Hoàn cảnh ra đời

Chiếc T-64 sản xuất cuối thập niên 1960 là loại tăng hiện đại nhất Liên Xô và thế giới thời đó. Tuy nhiên, chi phí sản xuất, bảo trì quá cao cùng với các trục trặc kỹ thuật ban đầu liên quan đến động cơ, xích xe tăng và pháo tăng khiến cho T-64 chỉ được sản xuất hạn chế và trang bị cho một số ít đơn vị tinh nhuệ của Hồng quân Liên Xô.

Yêu cầu lúc đó là phải chế tạo ra một mẫu tăng mới đơn giản, rẻ tiền, kinh tế, không dùng quá nhiều linh kiện kỹ thuật cao để có thể trang bị rộng rãi cho Hồng quân cùng quân đội các nước đồng minh, nhưng sức mạnh của nó phải tương đương T-64. Và thế là, “Obyekt 172” do Leonid Karchev chế tạo ra đời. Mẫu thử nghiệm “Obyekt 172M” được Valeri Venidikov hoàn thiện. Nhà máy xe tăng Uralvagonzavod đảm trách sản xuất. Sau đó vào năm 1971, nhà máy Chelyabinsk cũng lập tức đình chỉ sản xuất các mẫu T-55 và T-62 để tập trung vào T-72.

Thế là, trong khi đồng nghiệp T-64 chỉ được sản xuất hạn chế trong nội bộ Liên Xô, T-72 nhanh chóng trở thành loại tăng chủ lực phổ biến của Hồng quân Xô Viết và của quân đội nhiều nước trên thế giới, kể cả một số nước tư bản lớn. Nhiều nước khác cũng tham gia sản xuất T-72 hoặc các mẫu tăng giống như T-72, có nước sản xuất công khai hợp pháp, có nước sản xuất “chui”. Đã có hơn 25000 xe tăng T-72 được sản xuất trên thế giới. Có điều, tiền nào của nấy, xe tăng T-64 và các hậu duệ của nó là T-80, T-84 có chất lượng cao hơn T-72. Tuy nhiên, các bản nâng cấp của T-72, nhất là sau năm 1985 trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều: nó đã vượt qua T-64 và đạt sức mạnh gần bằng T-80 (trong khi giá thành vẫn rẻ).

[sửa] Mô tả

T72 vẫn kế tục kiểu dáng thấp bé cuả các dòng tăng T-55,T-62, T-64 với cách bố trí bố cục quy ước. Nhìn chung về bề ngoài, T-72 giống với T-64. T-72 có 6 bánh xích chạy bọc viền cao su và 3 bánh lăn hồi chuyển. Hệ thống nhìn đêm cuả xạ thủ gắn bên phải súng chính. Trên tháp pháo được trang bị 1 khẩu 12,7mm NSV có bệ xoay nhưng không có hệ thống bắn tự động trong xe, ngoài ra còn 1 khẩu đại liên đồng trục 7,62mm. Ống thông hơi gắn bên trái tháp pháo. T-72 có khoang động cơ rộng hơn T-64 và bộ tản nhiệt nằm gần đuôi xe.

[sửa] Tính năng kỹ thuật

[sửa] Tính cơ động

T-72 có tính cơ động cao hơn so với T-62, với động cơ V-12 Diesel có công suất lên đến 780 mã lực, đến năm 1985 được trang bị động cơ V-84 840 mã lực, hiện nay được trang bị động cơ 1000 mã lực giống T-90. Động cơ cuả T-72 được thiết kế rất tốt trong việc thải khói và chạy rất êm, giảm rất nhiều độ dằn xóc gây mệt mỏi cho tổ lái như ở mẫu T-62. Mặc dù có khoang động cơ lớn hơn T-64, nhưng do trọng lượng nặng hơn (41 tấn) nên T-72 được cho rằng có tốc độ gần như bằng T-64: 60km/h trên đường nhưạ và 45km/h trên đường gồ ghề. Mẫu T-72B1 còn được tăng cường động cơ V-12 piston làm mát bằng không khí công suất tới 840 mã lực có thể chạy bằng 3 loại nhiên liệu: Diesel, Benzen, Kerosene. 2 bình nhiên liệu phụ 200 lít có thể gắn sau đuôi xe. Mặc dù T-72 không kín nước, nó có thể gắn ống thở dùng cho việc lội nước qua nơi sâu, việc chuẩn bị lội nước mất khoảng 20 phút. Nếu xe tăng chết máy giữa lòng sông, nó sẽ chìm do giảm áp suất hoặc cần 6 giây để tái khởi động.

Mặc dù to hơn T-64, T-72 vẫn bị cho là “mi-nhon” hơn các xe tăng Phương Tây. T-72BM nặng nhất nhưng không quá 50 tấn, còn M1 Abrams bản nhẹ nhất là 61 tấn. Một số trục đường rất nhỏ chỉ thiết kế riêng cho T-72, xe tăng Tây phương đi không được. Bù lại, khoang lái của T-72 rất chật hẹp tù túng, khiến cho tổ lái nhiều khi bị căng thẳng thần kinh và mau mệt mỏi.

[sửa] Giáp trụ và hệ thống bảo vệ

Giáp trụ của T-72 thay đổi tùy theo phiên bản. Nhưng nhìn chung, T-72 có hệ thống giáp bảo vệ tốt hơn T-62 nhờ sử dụng giáp dày hơn, chất lượng cao hơn và thưà hưởng những đặc tính tốt từ T-64. Nguyên mẫu T-72 dùng giáp thép đúc. Các mẫu sau năm 1979 dùng giáp composite và trang bị thêm váy bảo vệ hông. Các mẫu cuối thập niên 1980 trở đi trang bị thêm giáp phản ứng và gạch ERA. Giáp tấm composite trên mẫu T-72M và T-72M1 có thể chống đỡ được đạn 105mm trên M1 Abrams từ khoảng cách trên 2000m. Tháp pháo được bọc giáp quy ước có độ dày 280mm, còn giáp trước có độ dày lên đến 300-500mm.

Phiên bản T-72M và T-72M1 còn được trang bị thêm thiết bị xác định tầm bắn bằng laser làm giảm thiệt hại khi trúng đạn ở khoảng cách 2000m và trở xuống . Bên cạnh hệ thống phát hiện phóng xạ PAZ, T-72 còn được trang bị hệ thống chống phóng xạ (trừ các phiên bản xuất khẩu), hệ thống bảo vệ NBC (bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hoá học). T-72 có thiết bị sinh khói giống như các mẫu T-55, T-62 , các ống phóng lưụ đạn khói được lắp ở 2 bên hông tháp pháo.

Tuy nhiên, giống như phần lớn xe tăng T, hòm đạn T-72 đặt ở khoang chính và không cách biệt an toàn với tổ lái. Vì vậy, khi khoang chính bị trúng đạn làm hòm đạn có bị nổ tung thì các mảnh đạn sẽ văng vào tổ lái gây thương vong, có khi hòm đạn nổ làm cả tháp pháo bị hất tung lên không trung.

[sửa] Vũ khí

T-72 được trang bị vũ khí, đạn và hệ thống điều khiển hoả lực tương tự như T-64: súng chính nòng trơn 125mm. Hệ thống nạp đạn tự động gắn ở sau tháp pháo làm giảm số lượng tổ lái còn 3 người. Súng chính 125mm cuả T-72 có khả năng phá tan giáp cuả M1 Abrams từ khoảng cách 1000 m .Đạn phá giáp BK-27 HEAT gần đây có thêm mũi 3 cạnh tăng khả năng xuyên giáp quy ước và giáp ERA. Đạn BK-29 với đầu đạn cứng dùng để đôí phó với giáp cảm ứng, đạn MP thì có thể vỡ mảnh dùng để sát thương bộ binh . Nếu đạn BK-29 HEAT-MP được sử dụng thì nó có thể thay thế hoặc bổ sung cho loại đạn Frag-HE (hiện đang được NATO dùng). Tầm bắn tối đa của pháo là 9,1 km, của tên lửa là 4 km.

T-72 không dùng thiết bị nạp hiện đại (nhưng phức tạp và đắt) của T-64 và T-80 (T-72 dùng hệ thống nạp ngang, còn T-64 dùng hệ thống phát động dọc). Tốc độ nạp vẫn tốt (6,5-15 giây/viên, tùy vị trí ổ quay) nhưng độ tin cậy thấp, dễ có trục trặc nếu bảo dưỡng kém. Thiết bị tự nạp sẽ đẩy nòng súng lên cao 3 độ nhằm ấn đuôi nòng xuống để nạp đạn, nhưng không ảnh hưởng đến tầm ngắm độc lập của pháo thủ. Nói chung việc nạp đạn cũng không gây nhiều phiền hà, và vỏ đạn cũng dễ cầm hơn.

Thiết bị nhìn đêm cuả T-72 gắn bên phải súng chính thay vì bên trái như T-64. Tuy nhiên, ở mẫu T-72 đầu tiên, nó vẫn nằm bên trái. Thiết bị ngắm 1K13-49 có thể dùng cho 2 chức năng : nhìn đêm và làm thiết bị dẫn bắn tên lưả chống tăng qua nòng.T-72 còn có thể lắp đặt hệ thống định vị mục tiêu bằng nhiệt, bao gồm Agava-2 cuả Nga , SAGEM-produced ALIS cuả Pháp , thiết bị này có thể dùng để dẫn bắn tên lưả chống tăng vào ban đêm. Có điều, phần lớn các thiết bị này vắng mặt ở các phiên bản xuất khẩu.

[sửa] Các phiên bản

So với nhiều đồng sự dòng T, T-72 có rất rất nhiều phiên bản. Ngoài Liên Xô, những nước đồng minh xã hội chủ nghĩa khác như Ba Lan, Tiệp Khắc,... cũng sản xuất T-72 theo kiểu riêng của mình, từ đó sinh ra vô số loại T-72 khác nhau.

[sửa] Liên Xô-Nga

[sửa] Các quốc gia sử dụng

[sửa] Các quốc gia hiện đang sử dụng

Các quốc gia sử dụng T-72
T-72 Hungaria.
T-72 MBT và BMP-1 IFV tân trang thuộc Sư đoàn cơ giới số 9 Iraq ở Taji, Iraq.
-72 MBT và BMP-1 IFV tân trang thuộc Sư đoàn cơ giới số 9.

[sửa] Các quốc gia sử dụng trước đây

T-72 và BMP-2 thuộc Đông Đức (cũ)
T-72M1 của Syria bị Israel chiếm, trưng bày tại Bảo tàng Yad la-Shiryon.

[sửa] Lịch sử chiến đấu

T-72M Iraq năm 2006
T-72 bị phá hủy.

[sửa] Chú thích

  1. ^ "War Technology"
  2. ^ a b c d e f g h i j k l m n "Gary's Combat Vehicle Reference Guide"
  3. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r "Militarium.net"
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên JED_The_Military_Equipment_Directory
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Hungarian_Ground_Forces
  6. ^ Belarus Army Equipment
  7. ^ The BS-Fusion Security System stopped the current process
  8. ^ "Czech Ministry of Defense"
  9. ^ Army Equipment
  10. ^ Iranian Ground Forces Equipment
  11. ^ Shapir, Yiftah S., Middle East Military Balance, Tel Aviv University, 6, 7 [1]
  12. ^ Czołg T-72 - Militaria - Wojska lądowe - Konflikty Zbrojne
  13. ^ MILITARIUM - Wojsko Polskie - Uzbrojenie
  14. ^ Nowa Technika Wosjkowa
  15. ^ T-72 MBT | Russian Arms, Military Technology, Analysis of Russia's Military Forces
  16. ^ Russian Army Equipment
  17. ^ Syria - Army Equipment
  18. ^ Tajik-Army Equipment
  19. ^ Turkmen-Army Equipment
  20. ^ Ground Forces Equipment - Ukraine
  21. ^ Uzbek-Army Equipment
  22. ^ Deutsche Militärfahrzeuge, page 559
  23. ^ M.O.T. - "Till skrotpris"

[sửa] Tham khảo

[sửa] Liên kết ngoài

[sửa] Nội dung liên quan

[sửa] Xe tăng có cùng sự phát triển

[sửa] AFV có thể so sánh được

[sửa] Trình tự thiết kế

T-54 - T-55 - T-62 - T-64 - T-72 - T-80 - T-90 - T-95

[sửa] Danh sách liên quan

Phương tiện chiến đấu bọc thép thời Xô viết và hậu Xô viết sau Chiến tranh Thế giới II
Danh sách phương tiện chiến đấu bọc giáp theo quốc gia

T-72 - theo chủ đề

T-72 - Dự án liên quan

© 2008 Netencyclo - Netencyclo Trang Chính - Chính sách về sự riêng tư - Lời phủ nhận - Program Policies
Netencyclo, the Wikipedia mirror : the biggest multilingual free-content encyclopedia on the Internet. Sửa đổi lần cuối lúc 00:11, ngày 14 tháng 5 năm 2007. Tất cả nội dung được phép sử dụng theo Giấy phép Tài liệu Tự do GNU (xem Quyền tác giả để biết thêm chi tiết). All Wikipedia content is licensed under the GNU Free Documentation License (see details). Content on this web site is provided for informational purposes only. We accept no responsibility for any loss, injury or inconvenience sustained by any person resulting from information published on this site. We encourage you to verify any critical information with the relevant authorities.